PDA

Xem bản đầy đủ : Chân Dung Người Cư Sĩ!


Quảng Nghiêm
18-11-2009, 09:23
Dưới bóng vạn lý của ba ngôi Tam bảo - Phật, Pháp, Tăng - người cư sĩ Phật giáo là chiếc cầu tượng trưng và tiêu biểu giữa Tam bảo và cuộc đời thường; giữa hàng xuất gia và quần chúng.


Khác hẳn với tất cả các hệ thống triết lý và tôn giáo trên thế giới, đạo Phật - tự bản chất lẫn hiện tượng - vừa là một hệ thống triết lý mà cũng vừa là một hình trạng tôn giáo hoàn chỉnh với sự kết hợp hài hòa giữa tín điều và tín lý. Giữa cuộc đời, Đức Phật là một vị thầy hóa độ; trong đức tin, Đức Phật là một đấng Giác ngộ chứng tri. Người theo đạo Phật là những người luôn luôn tỉnh thức để làm chủ lấy mình, không giao trọn số phận của mình cho sự định đoạt của một đấng quyền năng tuyệt đối nào cả. Tuy cùng là Phật tử, nhưng không ai giống ai hoàn toàn về mức độ thuần thành và sở đắc giáo pháp trong quá trình hộ đạo và hành đạo, vì mỗi cá nhân còn phải tùy thuộc vào căn cơ, trí tuệ, hoàn cảnh... trùng trùng duyên nghiệp khởi và động không ngừng của chính mình. Bởi vậy, không ai có thế “tu thay” hay “lãnh thế” nghiệp duyên của tha nhân như thường thấy trong các tôn giáo khác.
http://www.giacngo.vn/UserImages/1/2009/11/13/vaitro.gif
Dưới bóng vạn lý của ba ngôi Tam bảo - Phật, Pháp, Tăng - người cư sĩ Phật giáo (CSPG) là chiếc cầu tượng trưng và tiêu biểu giữa Tam bảo và cuộc đời thường; giữa hàng xuất gia và quần chúng. Nhưng thế nào là chân dung của một người CSPG điển hình và tiêu chí nào để thành người cư sĩ? Đâu là sự khác biệt giữa một người CSPG và một Phật tử “bình thường”?

Định nghĩa danh từ cư sĩ

Trong hệ thống xã hội cổ điển Đông phương, cư sĩ thường được định nghĩa như là người có tài năng nhưng không ra tham gia việc nước hay dấn thân vào việc đời, sống mai danh ẩn tích ở chốn thâm sơn hay điền dã (Cư: ở. Sĩ: kẻ sĩ).
Nói về nguồn gốc thì sách Cải trai mạn lục của Ngô Tăng Năng ghi rằng: “Danh hiệu cư sĩ có từ thời Thương Chu”. Sách Hàn Phi Tử chép: “Thái Công được phong ở đất Tề. Ở Đông Hải có hai cư sĩ là Cuồng Duật Hoa và Sĩ Tì Đệ can rằng: “Ta không nên thần phục Thiên tử, không giao hữu với chư hầu, chỉ nên cày ruộng mà ăn, đào giếng mà uống”. Như vậy, từ thời xa xưa, cư sĩ là người sống rất độc lập, thanh đạm (gần với hàn sĩ) và sống ẩn dật (ẩn sĩ).
Trong Phật giáo thì cư sĩ (Kulapati) là người học Phật tại gia. Sách Xuyết canh lục có ghi: “Người học Phật đời nay phần nhiều tự gọi mình là cư sĩ. Khảo trong Lục kinh thì chỉ có sách Lễ ký có danh từ cư sĩ cẩm đới (cư sĩ đai gấm), nhà chú giải ghi là vị cư sĩ có đạo nghê”. Sách Duy Ma kinh sớ của Tuệ Viễn, quyển 1, nói rõ hơn về khái niệm cư sĩ: “Cư sĩ có hai loại: Một loại tích lũy được nhiều của cải (cư tài cư sĩ), gọi là cư sĩ. Một loại là tu đạo tại gia, tức là Cư gia đạo sĩ cũng gọi là cư sĩ”. Phụ nữ cũng có thể gọi là cư sĩ, tức nữ cư sĩ. Trong các sách Thiền lục thường có danh hiệu ấy.
Đệ tử đầu tiên của Đức Phật Thích Ca là cư sĩ. Ngay khi Ngài vừa mới thành đạo dưới cội Bồ đề, có hai thương khách từ phương Nam đến, đó là Bà Ha Lệ Ca (Bahallika) và Trà Phú Sa (Trapusha) chiêm ngưỡng dung mạo quá uy nghi của Phật tỏa trong ánh hào quang rạng ngời, bèn đến đảnh lễ và dâng Đức Thế Tôn phẩm vật cúng dường. Đức Phật mỉm cười, đặt tay lên đầu hai người thọ nhận quy y và truyền giới. Đó là hai Ưu bà tắc (Upasaka, tiếng Phạn có nghĩa là đệ tử nam giới) đầu tiên của Phật giáo. Sau khi quy y Tam bảo, Đức Phật truyền năm giới (Ngũ giới): Không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối và không uống rượu. Theo lời Phật dạy thì sau khi quy y Tam bảo và thọ Ngũ giới rồi, hai đệ tử này có thể ở tại nhà tiếp tục cuộc sống bình thường để tu học. Sau đó không lâu, tại vườn Lộc Uyển, Đức Phật cũng thọ nhận quy y, truyền giới và khuyên tu tại gia cho vị Ưu bà di (Upasika: nữ đệ tử) đầu tiên trong lịch sử Phật giáo.
Giới CSPG đã hiện diện từ những ngày Đức Phật Thích Ca chưa chuyển pháp luân dưới gốc Bồ đề, trong vườn Lộc Uyển, nhưng giới Phật tử vẫn còn rất ít người tự nhận mình là cư sĩ (cách gọi Việt Nam); là Thiện nhơn, hay Cận sự nhơn (như thường thấy danh xưng Thiện nam hay Cận sự nam theo cách gọi của Trung Hoa). Có lẽ vì chữ “Sĩ” đã làm cho nhiều người tự cảm thấy danh xưng cư sĩ mang một ý nghĩa đặc biệt tương tự nào đó như kẻ sĩ, hiền sĩ... có vẻ xa cách với “người thường”!
Thật ra tự nguồn gốc, cư sĩ là một người hiểu biết, sống có nhân cách, trách nhiệm và bổn phận với bản thân, gia đình, người thân và xã hội; có tinh thần cầu tiến bộ trong ý hướng học đời, học đạo làm người. Cư sĩ, nói chung, có thể là một người chẳng liên quan gì đến tôn giáo hoặc chỉ có khuynh hướng về tôn giáo mà thôi. Nhưng CSPG, trước hết phải là một Phật tử. Vì vậy, bất cứ một người nào theo Phật giáo có quy y Phật, Pháp, Tăng (Tam bảo), có chuyên tâm giữ giới (Ngũ giới) và có ý thức hành thiện (Thập thiện), tu học tại gia đều có thể gọi là CSPG, không phân biệt hoàn cảnh xuất thân hay địa vị xã hội. Đạo Phật là đạo bình đẳng. Người theo đạo Phật lấy cái tâm Bồ đề làm gốc, nên chân tâm là chủ đạo, là cốt lõi tinh yếu, là giá trị tuyệt đối của người Phật tử. Thời Đức Phật còn tại thế, xã hội Ấn Độ sinh hoạt riêng trong cung đường của giai cấp. Giai cấp cùng đinh Chiên đà la, chuyên nghề hạ tiện gánh phân có thể bị giết vì lầm lỡ đạp trên cái bóng của giai cấp thượng đẳng quý tộc của hàng vua quan Sát đế lỵ. Giai cấp tu sĩ Bà la môn có quyền phán quyết tối cao trên thân phận của giai cấp thương gia, học sĩ trưởng giả và giai cấp lao động Thủ đà la. Thế nhưng đạo Phật đã dung hóa được giai cấp vì Đức Phật không căn cứ vào giả tướng mà nhìn thấu suốt bản lai diện mục của chúng sanh để tìm thấy Phật tánh trong từng cá thể. Không có giai cấp trong dòng máu cùng đỏ và nước mắt cùng mặn. Nói một cách đơn giản và đại chúng hơn thì CSPG là những Phật tử chuyên tu học tại gia.
http://www.giacngo.vn/UserImages/1/2009/11/13/vaitrocusi-1.gif
Vai trò truyền thống của người Cư Sĩ Phật gíao

Để góp phần minh họa chân dung và vai trò đa dạng trong quá trình tu học của người CSPG, người xưa có nói rằng:
Thứ nhất là tu tại gia,Thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa.Tu tại gia thường được coi là khó nhất vì cùng lúc, người CSPG phải đóng trọn hai vai trò: Vai trò đối với Đời và vai trò đối với Đạo.
Theo HT.Thích Thiện Hoa thì cái danh của người CSPG có đến năm chữ: “Người + Phật tử + Tại gia”. Đó là chưa kể người Phật tử tại gia ấy còn có những danh vị và trách nhiệm khác như: Công chức, giáo sư, chủ tiệm...
Vai trò đối với đời: Bao gồm những bổn phận và trách nhiệm đối với tự thân, đối với gia đình quyến thuộc, đối với mọi người, đối với quốc gia và xã hội. Vai trò đối với đời là một sự thử thách thường xuyên, có tác động trực tiếp và mạnh mẽ để tạo điều kiện thuận lợi hay trở lực cho vai trò đối với đạo. Trong giới hạn nhất định của cuộc đời thường thì mọi người đều chỉ có mỗi ngày 24 giờ để sống. Giữa hai hạng người cực đoan - hoặc không có gì để làm; hoặc làm tới khi chết rồi mà vẫn chưa hết công việc - là những người điều khiển được con ngựa thời gian bất kham. Thực tế đã chứng minh rằng, giữa dòng cuộc sống tất bật và trôi chảy không ngừng, nếu biết sắp đặt sẽ không có sự mâu thuẫn hay xung đột nào giữa việc đời và việc đạo như những kẻ sĩ xưa thường nói: “Hành tàng bất nhị kỳ quan” (Gánh vác việc đời hay rút lui ẩn dật không phải là hai trạng thái tách rời nhau). Trong tinh thần đó, người CSPG luôn luôn có khả năng tạo được thế quân bình giữa hai vai trò đối với đời và đạo.
Khi nói đến sự bức xúc của tâm lý tham gia công tác phục vụ cộng đồng, nhà Xã hội và Tâm lý Mỹ, Thomas Wagner, đã phát biểu rằng: “Làm việc thiện nguyện cũng như tham gia sinh hoạt tôn giáo cần phải làm ngay trong điều kiện có sẵn hiện tại (right here, right now). Đừng đợi, vì ngày mai cũng như ngày hôm nay. Sự đợi chờ có khi sẽ trở thành quá muộn vì không ai nắm chắc rằng, ngày mai họ sẽ còn hiện hữu hay không...”. Vai trò người CSPG cũng tương tự như thế. Nếu chờ đến lúc về hưu; chờ đến khi con cháu thành tài; chờ đến khi nợ cái nhà, chiếc xe trả hết mới có điều kiện tham gia công tác chùa chiền, tu học... thì có khi sẽ lâm vào cảnh “mai ăn khỏi trả tiền” và cái ngày mai đầy hứa hẹn đó có thể sẽ không bao giờ thành hiện thực.
Tu tại gia khó nhất... là một thực tế hiển nhiên, nhất là đối với quý vị chưa đến lứa tuổi “lão giả an chi” còn phải bôn ba với cuộc sống. Vật lộn với nợ áo cơm đã khó, thỏa mãn hết các món nợ đời, nợ danh, nợ tiếng... lại càng khó hơn. Bên cạnh nỗ lực nhằm thỏa mãn những nhu cầu căn bản của đời sống thường nhật, còn sắp xếp được hoàn cảnh và thời gian để tu học, tham gia công tác hộ đạo và hành đạo... đòi hỏi người CSPG một tín tâm kiên cố và một chí tu học bền bỉ mới tránh được cảnh tu học chợ chiều như Nguyên Phong than thở trong một bài thơ vui đăng ở báo Liên Hoa: “Xuân Thu tu học nhị kỳ, mỗi năm mỗi vắng còn gì là tu!”.
Không phải chỉ có trong thời đại mới hay trong hoàn cảnh lưu cư ở xứ người, giới CSPG mới phải đối diện với sự khó khăn của hoàn cảnh. Giới luật căn bản của Phật giáo từ xưa đã căn cứ trên hoàn cảnh đặc biệt khó khăn của người tu tại gia để quy định những điều luật khả thi cho Phật tử tại gia và xuất gia. Nếu là xuất gia thì tùy theo trình độ và quá trình tu học để thọ giới. Như có 10 giới dành cho người tập sự xuất gia (Sa di và Sa di ni), 250 giới dành cho Tỳ kheo và 340 giới cho Tỳ kheo ni. Trong khi đó, chỉ có 5 giới dành cho người Phật tử tại gia.
Tuy sự hưng thịnh của một tôn giáo không nhất thiết tỷ lệ thuận với số lượng tín đồ, nhưng rõ ràng là khối quần chúng tín đồ đóng một vai trò chủ lực và sinh động trong sinh hoạt tôn giáo. Trong sinh hoạt của Phật giáo Tịnh độ, giới CSPG là chỗ dựa của Tam bảo như Thiền sư Thích Thanh Từ khẳng định trong tập sách Trách vụ Phật tử tại gia, rằng: “Truyền bá Phật giáo được phổ biến, linh động trong quần chúng do Phật tử tại gia thực hiện”. Bởi vì theo Thiền sư thì làm Phật sự chính là làm “sống dậy lời Phật dạy” chứ không phải bị dính chặt vào những phương tiện tạm thời trợ lực cho việc hoằng dương Chánh pháp như cúng chùa, cất chùa, trai nguyện, công quả v.v... Cũng trong tác phẩm vừa nêu dẫn, Thiền sư viết tiếp: “Nếp sống của người xuất gia cao siêu cách biệt quần chúng quá, dù cố gắng cách mấy cũng khó ảnh hưởng lây. Vì thế, Phật tử tại gia có trách nhiệm làm linh động và sống dậy tinh thần Phật giáo qua nếp sống cá nhân và gia đình mình”.

Vai trò hộ đạo của người cư sĩ Phật giáo

Quy y Tam bảo không phải là một hình thức “lễ Thánh” để từ đó, người quy y sẽ trở thành một tín đồ ngoan đạo, giao trọn tâm linh và số phận của đời mình cho một đấng thiêng liêng toàn năng định đoạt, vì Đức Phật không phải là một vị thần linh. Quy y là tự nguyện chọn cho mình một hướng đi, đặt cho mình một lý tưởng để nhắm đến: Phật là mục tiêu của lý tưởng để nhắm đến. Pháp là đường lối, là phương tiện cần thiết để tiến đến được mục tiêu lý tưởng đó. Và Tăng là người dẫn đường đáng tin cậy để hướng dẫn người học Phật định hướng và tiến vững bước trên con đường tìm đến mục tiêu. Do đó, sự liên lạc giữa người Phật tử với Tam bảo cũng cần thiết như người vượt biển trong sương mù cần phải có hải đăng, ghe thuyền, hướng đi để tới bờ. Hay cũng như cá nhân cần phải có sự liên lạc với gia đình và xã hội. Là một thành viên trong tứ chúng, là một cá thể trong cộng đồng, người CSPG có một trách vụ trực tiếp, thường xuyên và tích cực trong tiến trình hộ đạo và hành đạo.
Khác với các bậc tu hành đã xuất gia, Phật tử tại gia mỗi người có riêng một hoàn cảnh bản thân và gia đình khác nhau. Hoàn cảnh này có khi là thuận duyên mà cũng có khi là nghịch duyên có ảnh hưởng và tác động trực tiếp đến sự tu học của người CSPG. Bên cạnh đại đa số Phật tử tại gia, tạo được sự hài hòa song hành giữa việc đời và việc đạo, vẫn có hiện tượng thiếu quân bình giữa hai khuynh hướng gần như cực đoan của một thiểu số Phặt tử. Khuynh hướng “thái quá”: Bất chấp những nhu cầu cấp thiết của gia đình và quay lưng với trách nhiệm xã hội, rũ bỏ tất cả để đến chùa, sử dụng toàn thời gian để lo việc chùa chiền Phật sự. Khuynh hướng ngược lại là “bất cập”: Tuy có tín tâm nhưng không đến chùa, luôn luôn tìm cách biện minh cho thái độ xa cách Tam bảo của mình bằng những khái niệm sáo mòn như: “Phật tức tâm. Tu đâu cho bằng tu nhà... và v.v...”. Cả hai khuynh hướng thái quá và bất cập đều là những chướng ngại trên con đường tu học của người Phật tử tại gia.
Đã có quá nhiều sách vở, bài bản, ý kiến của chư tôn đức, các học giả, CSPG trình bày, tham khảo và nghiên cứu về vai trò tu và hành của người Phật tử tại gia. Trong bài viết rất giới hạn này, người trình bày sẽ không làm công việc tóm tắt hay liệt kê và lặp lại một cách có hệ thống hoặc tản mạn những điều nên làm hay không nên làm đã được ghi thành bài bản trong sách vở nói về vai trò của người CSPG mà chỉ xin đưa ra những ý kiến rất khiêm tốn của mình để làm cơ sở thảo luận. Tinh thần triết học Phật giáo rất thoáng đạt và mềm dẻo. Có khi còn mang tính chất “phủ định nhất quán” như Bồ tát Long Thọ đã tập đại thành Bát nhã Ba la mật để phủ nhận luôn cả nguyên tắc đầu tiên và cơ bản nhất trong nhân sinh quan của Phật giáo như Tứ Diệu đế, Bát Chánh đạo... Nhưng phủ nhận như khép cánh cửa sổ để mở ra khung cửa rộng của một sự xác tín về hành trình tất yếu trên con đường đưa đến giác ngộ và giải thoát sau cùng. Bởi vậy, ngôn từ dầu có hoa gấm tới đâu; cơ sở lý luận dù có vững chãi tới mức nào; luận điểm có sức thuyết phục đến mấy... thì cũng chỉ là phương tiện nhất thời rất tương đối và phù du để đưa đến sự im lặng của Chánh pháp; sự vô ngôn của giác ngộ và giải thoát.
Trong tinh thần học Phật thoáng rộng và đầy tâm đạo đó, chúng ta thử cùng nhìn vào hoàn cảnh thực tế để có thể được hay chăng, cùng bàn thảo một vài ý niệm đề cương về vai trò hộ đạo của người CSPG:
http://www.giacngo.vn/UserImages/1/2009/11/13/vaitrocusi-2.gif

1- Vai trò xây dựng cơ sở vật chất

Khi hướng về Tam bảo, khuynh hướng truyền thống phổ biến nhất của giới Phật tử tại gia là nghĩ đến mái chùa và hình ảnh quý Thầy, quý Ni sư. Tuy động cơ tâm linh của Phật tử đến chùa có khác nhau về cách nhận thức và mức độ thể hiện, nhưng tất cả đều có một gốc rễ chung là tín tâm hay lòng tin kính vào Đức Phật và giáo lý cứu khổ, độ sanh của Ngài. Thế giới tâm linh riêng tư của từng cá nhân thường có điều kiện khai mở và un đúc trong khung cảnh thờ tự trang nghiêm của chùa chiền và tu viện, dưới sự dìu dắt tinh thần của Tăng, Ni. Ngôi chùa, vì vậy, không chỉ là ngôi nhà thờ tự mà còn là một thế giới thu gọn của một cộng đồng của những người có chung niềm tin.
Trong những xã hội kỹ nghệ và cường quốc kinh tế Tây Phương, nhất là tại Mỹ, rõ ràng có một sự quan hệ hỗ tương theo tỷ lệ thuận giữa cuộc sống vật chất và đời sống tinh thần. Đời sống kinh tế gia đình và vật chất xã hội càng phong phú thì chùa chiền và tu viện được xây dựng càng nhiều. Và đây cũng chính là “ngọn lửa thử vàng” để trắc nghiệm cho cái tâm Bồ đề và chí tu học của cả hai giới Phật tử xuất gia và tại gia. Sự xuất hiện nhiều chùa chiền và tu viện là một hiện tượng tích cực và lành mạnh của Phật giáo. Tuy nhiên, giới xuất gia quý Thầy và Sư cô đóng vai trò nào trong việc hướng dẫn tinh thần và giới CSPG đóng vai trò nào trong việc vận động vật chất để lập chùa, xây dựng tu viện mới là điều quan trọng. Bất cứ một ngôi chùa lập nên dù nguy nga hay khiêm tốn đến mức độ nào mà vẫn phát huy được hình ảnh cao đẹp và uy nghi của Tam bảo; duy trì được cốt lõi của tinh thần Lục hòa trong giới cư sĩ với nhau mới là điều đáng quý. Phật giáo không chấp nhận lối ngụy biện “cứu cánh biện minh cho phương tiện”. Ngược lại, trong phương tiện đã mang mầm cứu cánh. Chùa chiền và cơ sở vật chất tuy cũng chỉ là phương tiện, nhưng ngay dưới mái chùa, hạt giống từ bi, trí tuệ, giải thoát đã ươm mầm từ thiện ý, tâm đạo và việc làm của Tăng Ni và cư sĩ. Trong vai trò góp phần xây dựng cơ sở vật chất làm phương tiện tu học, người cư sĩ là chỗ dựa vững chắc của Tăng Ni trong vai trò hộ đạo để xác định được giới hạn hợp lý của nhu cầu, khả năng và hoàn cảnh cụ thể hầu tránh được tình trạng cả thầy lẫn đệ tử đem phương tiện làm cứu cánh; quên mục đích tu học để giải thoát và tự trói buộc nhau vào cảnh nợ nần ngân hàng; đôn đáo lo chạy tiền trả nợ... “chùa”! Hậu quả trực tiếp là thay vì chú tâm tu học thì người cư sĩ ngày lại ngày chỉ lo hô hào, tổ chức gây quỹ dưới những hình thức đượm màu tục lụy để tranh đua xây chùa to, đúc tượng lớn; thường xuyên tiếp cận với nhu cầu vật chất mà xa lìa phẩm hạnh của đời sống tinh thần.
http://www.giacngo.vn/UserImages/1/2009/11/13/cusi.jpg

2- Vai trò đem đạo vào đời

Một Thiền sư Nhật Bản, tu sĩ Samurai Kenji, có nhận xét: “Đem đời vào đạo sẽ làm cho đạo chao đảo chông chênh; nhưng đem đạo vào đời sẽ làm cho đời thanh cao và vững chắc”. Đem đạo vào đời có nghĩa là mang cái tâm Bồ đề vào cuộc sống. Kinh Hoa Nghiêm chỉ rõ: “Quên mất tâm Bồ đề mà tu hành các thiện pháp thì gọi là hành động theo ma vương. Quên mất còn thế, huống chi chưa phát!” (Hoa Nghiêm - Phẩm Phát Bồ Đề Tâm. Trí Quang dịch).
Giới cư sĩ đóng vai chiếc cầu bắc qua dòng sông tâm ý và hành trạng để đưa đạo Phật vào cuộc đời. Đạo Phật và kinh điển nhà Phật không phải là một kho tàng tri thức đóng khung bất biến trong gia tài kiến thức cổ truyền của nhân loại. Trái lại, đạo Phật là một hệ thống tư tưởng và nguyên tắc hành xử sinh động, không bị biến chất hay cô lập với thời gian và hoàn cảnh. Đạo Phật không nhằm chế ngự tư duy của nhân loại như hệ thống luận lý học Tây phương mà tiếp cận với cuộc đời thường một cách bình đẳng và công minh. Từ hàng quý tộc đến giới cùng đinh; từ hàng thức giả đến giới không biết chữ đều là những chúng sanh có Phật tính và có khả năng giác ngộ. Bởi vậy, mọi người cư sĩ đều có tác dụng quan trọng ngang nhau trong vai trò hộ đạo và hành đạo. Trách vụ làm cho đạo Phật sinh động trong môi trường sống hiện thực trước hết là cách sống của chính người cư sĩ. Nhà tôn giáo học Mỹ, Willie Bretch, nhận xét: “Bản chất của một tôn giáo thể hiện trong cách sống của tín đồ theo tôn giáo đó sẽ mang khả năng truyền đạo mạnh mẽ và trực tiếp nhiều lần hơn là lý thuyết kinh điển nằm chất đống dưới bệ thờ và trong thư viện” (Religious Nature, 2001).
Thực tế tại Mỹ và các nước phương Tây, một gia đình Việt Nam có vợ chồng con cái theo nhiều đạo khác nhau không phải là chuyện hiếm có đời nay. Cũng vậy, trong mọi cơ cấu đoàn thể cũng như tổ chức và khu vực xã hội, Phật tử thường là một phần nhỏ hay lớn bên cạnh những người theo các tôn giáo khác. Người ngoài đạo Phật thường nhìn người Phật tử như là hình ảnh tiêu biểu, phản ảnh trung thành tinh thần Phật giáo. Vì vậy, trách vụ hộ đạo tích cực đầu tiên của người CSPG là xây dựng một phong thái sống thích hợp với khái niệm của một người Phật tử qua lời nói, sinh hoạt và cách ứng xử.
Nguyên tắc xử thế nhằm thu phục nhân tâm thường được liệt kê dài lê thê trong các sách giáo khoa “học làm người” để đạt đến nghệ thuật đắc nhân tâm. Nhưng cư sĩ không phải là người đi tìm đắc nhân tâm mà là người nuôi dưỡng và chia sẻ chân tâm.
Muốn có sự hòa hợp với mọi người trong cuộc sống cần phải có tấm lòng sống thật, không chấp cái danh hư huyễn. Muốn có sự gần gũi và thân thiện với mọi người cần giảm thiểu tối đa thái độ thắc mắc, phê phán, lý sự mà giàu lòng cảm thông chia sẻ và khiêm tốn. Không phải gia đình nào cũng có cả vợ lẫn chồng và con cái đều là Phật tử. Không phải xã hội nào cũng chỉ có giới Phật tử thuần nhất đến với nhau. Giới xuất gia là tấm gương đạo hạnh đã đành. Nhưng hình ảnh giới Phật tử tại gia, hai tay nâng lấy cả việc đời lẫn việc đạo, mới chính là đại biểu đầy thuyết phục nhất để mang đạo vào đời.

3- Vai trò hộ trì Tam bảo

Hành động bảo vệ thường được thể hiện dưới ba cách:
- Bảo thủ: Khư khư nắm giữ những gì đang có. Trong tôn giáo, thái độ này là quyết liệt nắm giữ những tín điều như những nguyên tắc bất biến; sợ sự xâm lấn từ bên ngoài và động cơ thay đổi từ bên trong.
- Trung dung: Đồng thời bảo vệ và phát huy những giá trị chính đáng. Trong tôn giáo, thái độ này có một tác động tích cực, tạo được sức mạnh mới và giúp cho tôn giáo không bị lỗi thời.
- Cấp tiến: Hoàn toàn đổi mới. Mạnh mẽ phá đổ cái cũ để xây dựng cái mới. Trong tôn giáo, thái độ này thường dẫn đến tình trạng cho sự ly khai Giáo hội chính thống để xây dựng một hệ phái mới.
Phật giáo, cũng giống như các tôn giáo lớn với hàng chục triệu tín đồ, trải rộng qua nhiều vùng có lãnh thổ, chính trị, văn hóa, xã hội và ngôn ngữ khác nhau trên toàn thế giới, ba khuynh hướng bảo vệ đạo pháp nói trên cũng thường xuyên xảy ra đồng thời hay riêng lẻ.
Những khuynh hướng cực đoan, mang nặng tính chất duy lý và bảo thủ không hợp với một tôn giáo lấy cái Tâm làm gốc như đạo Phật. Vì vậy, khuynh hướng trung dung được thể hiện phổ biến nhất trong vai trò hộ đạo và hành đạo của người CSPG.
Tuy thái độ trung dung được tôn trọng và ưa chuộng, nhưng trong những thời điểm và hoàn cảnh đặc biệt, người CSPG cần phải đấu tranh tích cực giữa “Kính” và “Chính”. Kính trọng một người không có nghĩa là phải kính trọng luôn sự bất chính hay sai lầm của người đó. Ví dụ: Kính thầy không có nghĩa là phải thỏa hiệp với những điều chưa đúng của thầy; hoặc kính nể đạo hữu không có nghĩa là im lặng đồng lõa với những điều sái trái của bạn đạo.
Bảo vệ là giữ gìn và tu hành là sửa đổi. Không có một sự giữ gìn và sửa đổi nào mà không tạo ra những hệ quả tất nhiên theo sau. Nghĩa là luôn luôn có sự tán đồng và bất đồng trong tập thể. Sự mâu thuẫn có khi ở mức độ tiềm tàng, nhưng cũng có khi bùng nổ đưa đến chỗ phân ly hay chia thành phe nhóm. Hiện tượng có nhiều chùa chiền trong một địa phương nhỏ bé và vị tu sĩ trụ trì chùa này chẳng hề bén mảng thăm viếng chùa kia không phải là hiện tượng hiếm hoi tại nhiều vùng đất ở hải ngoại. Nếu phải tu học trong một hoàn cảnh phân hóa như thế, CSPG thường có một tư thế thuận lợi nhất để giúp đưa sinh hoạt các chùa cô lập đến gần nhau. Bảo vệ đạo pháp không phải là khư khư đến chùa này hay nhất tâm theo thầy khác mà cần phát huy lòng kính ngưỡng rộng lớn đối với Tam bảo. Khi trên đường tu học, người cư sĩ không lấy biên giới đất đai làm điểm tựa hay lấy thành quách chùa chiền làm giới hạn thì hình ảnh Tam bảo sẽ trở thành thế giới tín ngưỡng không biên giới với mọi người.
4- Vai trò giáo dục
Trong 49 năm hóa độ chúng sanh, Đức Phật đã xuất hiện như một vị thầy trụ cột (bổn sư) bên cạnh Tăng đoàn tứ chúng. Có thể nói, một trong những vai trò trọng điểm hàng đầu của đạo Phật là giáo dục. Thông qua phương tiện giáo dục, đạo Phật đã giúp khai phóng con người từ “mê” đến “giác”, từ cảm tính đến nhận thức; và từ nhận thức đến hành động. Bởi vậy, hàng giáo phẩm xuất gia các cấp của Phật giáo đều là những vị thầy (Sư: Tổ sư, Đại sư, Thiền sư, Ni sư). Những danh Tăng lỗi lạc và uyên bác trong lịch sử Phật giáo như Đạt Ma, Huyền Trang, Vạn Hạnh, Viên Chiếu, Mãn Giác, Hương Hải… đều là những vị thầy.
Giáo dục là phương tiện chủ lực trong vai trò hóa đạo của Phật giáo.
Trong bối cảnh Phật giáo tại hải ngoại, nhất là trong xã hội của các nước có nền giáo dục tiên tiến và mức độ dân trí cao như các nước Âu Mỹ ngày nay, phương tiện giáo dục để hoằng dương Phật pháp là một sự kết hợp tất yếu giữa tín tâm và tri thức. Có tín tâm mà thiếu tri thức thì con đường học Phật rất dễ thiên về khuynh hướng bảo thủ, khép kín và vụ hình thức lễ nghi. Ngược lại, có tri thức mà thiếu tín tâm thì con đường học Phật dễ dàng thiên về khuynh hướng duy lý, phân hóa và tùy tiện.
Tương lai Phật giáo và khả năng kế thừa để duy trì và phát huy tinh thần Phật giáo của tuổi trẻ Việt Nam tại hải ngoại cũng là mối quan tâm thiết yếu của thế hệ Phật tử đàn anh, kể cả hàng xuất gia và tại gia. Theo thống kê của Viện Khảo sát các nhóm chủng tộc tại Mỹ (MGRI) thì cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ thuộc vào hàng khá “trẻ trung”. Có 68% tuổi trẻ Việt Nam sinh sau 1975. Nhưng quan sát kỹ thành phần tuổi tác của Phật tử đến sinh hoạt hay tu học đều đặn tại các chùa thì sẽ thấy rõ tỷ số tuổi trẻ học Phật còn quá “mỏng” so với tỷ số dân cư. Nếu thử phóng tầm nhìn về một tương lai chừng 20 năm sau, khi thế hệ Phật tử đàn anh hiện tại trở thành quá khứ, thì thế hệ đàn em tại hải ngoại có đủ “dày” và thuần thành để bảo vệ và phát huy đạo pháp hay không? Gia đình Phật tử tuy là một tổ chức tuổi trẻ đầy hứa hẹn nhưng có bao nhiêu chùa lớn hay nhỏ mới được xây dựng trong những năm gần đây có được sự hiện diện của Gia đình Phật tử?
Bên cạnh quý Tăng Ni, giới CSPG có một vị thế cốt cán và tiên phong trong vai trò giáo dục, bao gồm:
- Góp phần hỗ trợ trong vấn đề đào tạo Tăng tài: Sự hưng thịnh của Phật giáo xưa nay đều có một sự liên đới hữu cơ giữa tài năng (học thuật, nghiên cứu, sáng tạo…) của giới Tăng Ni và công cuộc hoằng dương đạo pháp. Hiện trạng tại hải ngoại thì học vấn đóng một vai trò quan trọng khi nói đến tài năng. Chẳng hạn như các Mục sư quản nhiệm của nhiều hệ phái Tin Lành đòi hỏi phải có văn bằng cao học hay tiến sĩ thần học. Tuy tinh thần Phật giáo không vụ bằng cấp, nhưng hoàn cảnh địa lý và xã hội đã thay đổi. Trong hoàn cảnh mới, vai trò của quý Tăng Ni càng nặng nề hơn. Bên cạnh trách vụ tu trì truyền thống, quý Tăng Ni còn phải đóng vai trò đối ngoại với xã hội đa chủng đang nhìn về Phật giáo; vai trò giáo dục cho thế trẻ không thông tiếng Việt; vai trò làm chỗ dựa tinh thần cho giới Phật tử tại gia đang tranh sống trong một môi trường xứ người. Những vai trò đó, đòi hỏi quý Thầy và quý Sư cô không chỉ thông thạo kinh tạng nội điển mà còn phải thông qua quá trình học hỏi tại các nha trường hay học viện nơi mình cư trú. Nếu giới cư sĩ nhiệt tình gánh vác bớt một số công việc thích hợp giúp quý thầy, cô có thì giờ và phương tiện đi học thì đó cũng là một hành động gián tiếp góp phần đào tạo Tăng tài.
- Bắc nhịp cầu thế hệ: Giúp thế hệ trẻ, mà trực tiếp nhất là con em của chính mình, hiểu Phật giáo và hành theo tinh thần Phật giáo. Đồng thời tạo điều kiện bảo trợ và phát triển những tổ chức Phật tử trẻ như Gia đình Phật tử, Thanh niên Phật tử…
Giáo dục là một lãnh vực rất đa dạng. Đầu tư vào cơ sở vật chất dễ hơn vì có kết quả nhìn thấy ngay trước mắt, nhưng đầu tư vào giáo dục thì có khi kết quả chưa thấy liền, nhưng sẽ đơm hoa kết trái trong nhiều thế hệ tương lai.

Kết luận

Rất có thể phát xuất từ tinh thần trọng sĩ thái quá của văn hóa Á Đông “Dân hữu tứ sĩ vi chi tiên…”, nên khi nói đến Tam giáo (Nho - Phật - Lão) xã hội Việt Nam ta hay nói đến một thế giới “học sĩ” gồm những nhân vật xa cách với sách vở bao quanh đầy mình. Cũng thế, đã có một thời, Phật giáo bị nhìn một cách lệnh lạc: Hoặc là một Phật giáo quá cao siêu với tam tạng kinh điển, với tám vạn bốn ngàn pháp môn vi diệu; với những công án mây trời ngũ sắc tận đâu đâu. Hoặc tệ hơn, một Phật giáo đầy mê tín với bùa chú, cờ phướn đèn lồng, trống đánh kèn thổi để trừ ma yểm quỷ. Hình ảnh đạo Phật lệch lạc đó không ít thì nhiều, vẫn còn để lại những dấu vết trong thời hiện tại.
Đã có nhiều tu sĩ, học giả, cư sĩ Phật giáo bằng mọi phương tiện khả thi, cố đem Phật giáo đi vào cuộc đời hiện thực. Đây là một tiến trình rất quan trọng và cần thiết trong công tác Phật sự hộ đạo và hành đạo.
Càng ngày, người ta càng nhận ra rằng, tuy Phật giáo cao siêu “vô thượng thậm thâm vi diệu pháp”, nhưng con đường khởi thủy dẫn vào Phật giáo cũng chỉ là con đường đất chân quê mà mọi giới chúng sanh, nếu có một tấm lòng, đều có thể bước đi trên nẻo đường đó một cách thoải mái và nhẹ nhàng.
Người CSPG phải là lớp người “đưa đò” điển hình để trân trọng mời những người quan tâm đến Phật giáo tìm đến Phật giáo một cách đơn giản.
Nếu Tăng Ni hoằng hóa Phật giáo bằng kinh sách và những buổi thuyết pháp thì người Phật tử tại gia phổ biến Phật giáo trong người thân và quần chúng bằng chính cách sống cùng những lời thăm hỏi, chia sẻ và an ủi của mình. Trong lời kết luận về vai trò hộ đạo của người CSPG, thầy Thanh Từ nhận định rằng: “Giờ rảnh rỗi, Phật tử nói chuyện thân mật trong gia đình, hoặc đi thăm người láng giềng đau yếu... đều là những buổi thuyết pháp linh động của cư sĩ. Cách ăn ở trong nhà, sự đối xử hàng xóm hợp đạo lý, ấy là bài thuyết pháp sống của Phật tử tại gia. Phật tử tại gia thực hiện được nhiệm vụ mình, mới thật là người hộ đạo chân chính”.
Hơn hai nghìn năm trước, Đức Phật mỗi khi truyền giới hay dạy một hạnh tu cho Phật tử tu tại gia đều dặn dò: “Người tu tại gia giữ được rất khó vì nhiều nhân duyên ràng buộc” (Theo kinh Ưu Bà Tắc)
Cái khó vì hoàn cảnh của người CSPG đã có từ nghìn năm trước và nghìn năm sau vẫn còn khó. Nhiều khi cái khó không phải phát xuất tự nó mà từ những khái niệm và định kiến mà người ta mặc lên cho nó. Bởi vậy, người CSPG cùng lúc dấn bước trên hai con đường ngỡ như song hành nhưng lại đòi hỏi hai trách vụ khác biệt: Đời và Đạo. Hai con đường song song có cùng một điểm gặp gỡ: Chân tâm.


Trần Kiêm Đoàn
---------------------------------------------------------------------------------------
Nguồn: giacngo.vn

Quảng Nghiêm
18-11-2009, 09:30
Ngài Duy Ma Cật (Vimalakirti)

Với sự khởi dậy của phong trào Ðại thừa vào khoảng năm trăm năm sau Phật nhập diệt, Phật giáo trải qua một tiến trình trẻ trung hóa. Những người giữ vai trò then chốt trong tiến trình này là những vị lãnh đạo trong cộng đồng cư sĩ. Ngài Duy Ma Cật là một hình ảnh đại diện cho lối sống và sự đóng góp của những cư sĩ này vào tiến trình đó, được diễn tả trong kinh Vimalakirti-nirdasha (Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh), thường được gọi là kinh Duy Ma Cật.
Duy Ma Cật (Vimalakirti), một thương gia giàu có ở thành Vaisali (Tỳ Xá Ly), có biện tài, giỏi tranh luận và trí nhớ phi thường. Ông là một người đầy quyến rũ và bí ẩn. Không giống như những đại đệ tử của Ðức Thích Ca Mâu Ni, hầu như tách rời hẳn với đời sống thế tục, Duy Ma Cật sống đời sống của một cư sĩ trọn vẹn và không ràng buộc. Đời sống đó là một hiện thân của tinh thần Ðại thừa, khước từ tinh thần tu viện hạn hẹp và nhấn mạnh vào việc đi vào xã hội của Phật giáo.
http://www.giacngo.vn/UserImages/1/2009/11/11/duyma-2.gif
Ngài Văn Thù Sư Lợi và Duy Ma Cật

Ðối với giới Phật tử ở Ấn Ðộ, Trung Hoa, Nhật Bản, Đại Hàn, Việt Nam, đặc biệt là những cư sĩ tại gia, Duy Ma Cật đã trở thành một nhân vật được quảng đại quần chúng biết đến. Ðiều này được minh chứng khi chúng ta thấy rằng kinh Duy Ma Cật càng ngày càng được đọc tụng rộng rãi hơn trong giới Phật tử Ðại thừa bên cạnh kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Có sáu bản dịch kinh Duy Ma Cật tiếng Trung Hoa, trong đó có ba bản hiện còn. Trong những bản này, bản do Ngài Vimalakirti (Cưu Ma La Thập, 344-413) dịch được coi là có bút pháp tinh tế và được đọc nhiều nhất. Bồ tát triết gia Long Thọ (Nagarjuna) trong Ðại Trí Ðộ Luận (Mahaprajna-paramitopadesha) đã trích dẫn từ kinh Duy Ma Cật nhiều hơn những kinh điển khác ngoài kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Phái Thiên Thai cũng đặt kinh này vào một vị trí quan trọng, có bản sớ giải về kinh này. Ở Nhật Bản, đó là một trong ba bản kinh mà thái tử Shotòku (Thánh Ðức) viết sớ giải, hai bản kinh kia là kinh Pháp Hoa và kinh Thắng Man (Shrimala).
Kinh Duy Ma Cật chia sẻ với kinh Pháp Hoa nét độc đáo trong những kinh điển Ðại thừa gây ấn tượng và tác động mạnh nhất, và đã tạo ảnh hưởng lớn lên các thi sĩ và văn sĩ Trung Hoa và Nhật Bản. Thi sĩ lừng danh Trung Hoa thời Ðường là Vương Duy chẳng hạn bày tỏ sự kính ngưỡng của ông đối với kinh này với việc lấy tên là Duy Ma. Tác phẩm Hòjòki (Phương Trượng Ký) của Kamo no Chòmei (Áp Trường Minh, 1153 hoặc 1155-1216) trong văn học cổ đại Nhật Bản cũng chịu ảnh hưởng sâu xa tư tưởng kinh Duy Ma Cật, và "túp lều mười bộ" trong đó được diễn tả phỏng theo căn phòng mười bộ của ngài Duy Ma Cật.
Mặc dù sự đẹp đẽ trong văn chương, cũng như việc không thuộc vào một trường phái riêng biệt nào có thể là một phần nguyên do làm cho kinh này phổ biến rộng rãi và lâu dài, nhưng theo tôi, có lẽ nguyên do quan trọng nhất là ấn tượng mà Duy Ma Cật đã tạo ra nơi người đọc như là một con người, và đưa ra một cách thích đáng việc áp dụng thực tiễn tinh thần Ðại thừa.
Tư tưởng Phật giáo trong giai đoạn trước khi có phong trào Ðại thừa tập trung vào hình ảnh của tu sĩ, những vị sống nghiêm nhặt trong giới luật, và thực hành giáo pháp của Ðức Thích Ca Mâu Ni để chứng Thánh quả. Duy Ma Cật trái ngược hoàn toàn với những vị đó; ông là một thương gia giàu có, một công dân nổi bậc của thành Vaisali (Tỳ Xá Ly), được đồng bào thương mến và ông cũng rất gần gũi với họ. Ông có vợ và gia đình, dấn thân trong những hoạt động thương mãi, và thỉnh thoảng ông cũng có mặt trong các khu vui chơi và cờ bạc trong thành phố, để truyền bá giáo pháp Ðại thừa. Ông là một người thực hành loại giáo pháp mà Giáo đoàn trước kia, với sự nhấn mạnh vào tinh thần tu viện, không thể chấp nhận.
Chúng ta không có gì rõ ràng ngoài bản kinh để có thể xác định sự hiện hữu của Duy Ma Cật. Ngài Huyền Tráng có ghi lại rằng khi viếng thành phố Tỳ Xá Ly trong cuộc du hành sang Ấn Ðộ vào thế kỷ thứ bảy, ngài được chỉ cho ngôi nhà xưa của Duy Ma Cật, cũng như nhiều nơi được nói là Duy Ma Cật đã từng giảng dạy tại đó. Tuy nhiên, điều này cũng không đủ để chứng minh, bởi vì rất nhiều nhân vật chỉ có trong văn chương hay huyền thoại cũng được gán cho nơi sinh, chỗ ở, y phục... Với tất cả những gì chúng ta biết, theo một vài nhà Phật học, Duy Ma Cật có thể không khác hơn là một hiện thân tưởng tượng của lý tưởng cư sĩ do tín đồ Ðại thừa tạo ra về sau.
Tuy nhiên, cũng không có lý do vững vàng để có thể bác bỏ sự hiện hữu thật sự của ngài Duy Ma Cật. Như chúng ta biết, trước kia, các học giả Tây phương cũng đã từng bác bỏ sự hiện hữu trong lịch sử của Đức Thích Ca Mâu Ni và vua Ashoka (A Dục), người được coi như một lãnh tụ huyền thoại, cho đến khi các nhà khảo cổ khai quật được những chỉ dụ của ông.
Và dù nếu Duy Ma Cật chỉ là một nhân vật thuần túy tưởng tượng, cũng không ai có thể chối bỏ giá trị của bộ kinh Ðại thừa vĩ đại mà những hành vi của ông được diễn tả trong đó. Không phải tính lịch sử của Duy Ma Cật là quan trọng, nhưng chính cách mà bản kinh dùng ông để làm sáng tỏ lý tưởng Bồ tát, đưa ra những biện pháp thực tiễn để truyền bá Phật giáo trong toàn bộ xã hội, và trình bày một cái thấy sâu xa và cao thượng của đời sống, siêu vượt tính chất nhị nguyên của có và không. Duy Ma Cật chỉ là một cổ xe cho việc truyền bá tinh thần Ðại thừa.
Dù Duy Ma Cật là một nhân vật có thật hay chỉ trong văn chương, thành phố Vaisali (Tỳ Xá Ly), hậu trường của những sinh hoạt của ông, không phải là một sản phẩm của tưởng tượng. Ðó là một trung tâm thương mãi ở miền Bắc Ấn Ðộ và là một nguồn lực quan trọng của phong trào Ðại thừa. Chính Đức Thích Ca Mâu Ni đã tỏ ra rất chú ý đến thành phố này và đã cùng đệ tử viếng nơi đây nhiều lần. Không lâu trước khi nhập diệt, trên đường về thành Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu), Ngài đã dừng lại một thời gian tại đây, và khi rời thành phố, Ngài nói: "Thành Tỳ Xá Ly đẹp xiết bao!". Do đó, chúng ta không quá ngạc nhiên nếu thật sự có những tín đồ tại gia quan trọng như Duy Ma Cật sống và sinh hoạt trong thành phố này.
Chúng ta không nên nghĩ rằng những đệ tử nổi bật của Đức Phật chỉ là những vị Thanh văn, mặc dầu những câu chuyện về các vị này được ghi lại đầy đủ trong kinh điển tiền kỳ. Trong những năm đầu, chắc chắn Đức Thích Ca Mâu Ni đã để một thời gian dài giảng dạy cho những người trẻ gia nhập đời sống tu viện và quy tụ quanh ngài. Nhưng khi tiếng tăm Ngài được truyền rộng, càng ngày càng có nhiều người tìm đến nghe giáo pháp, và số nam nữ trở thành tín đồ tại gia của Ngài ngày càng gia tăng là điều tự nhiên. Kinh điển có ghi lại vua Bimbisara (Tần Bà Sa La), cai trị nước Magadha (Ma Kiệt Ðà), cũng như vua Pasenadi (Ba Tư Nặc), cai trị nước Koshala (Kiều Tát La), cả hai đều tín ngưỡng Phật pháp, và chúng ta cũng được nghe nói đến những sự quy ngưỡng trong giới thương gia giàu có như Sudatta (Tu Ðạt), người đã cúng tịnh xá Kỳ Viên cho Tăng đoàn.
Khi Đức Thích Ca Mâu Ni hướng đến những tín đồ tại gia, chúng ta có thể chắc chắn rằng Ngài đã hướng dẫn họ theo những phương pháp tu tập khác hơn những gì Ngài dạy cho giới tu sĩ, và vì vậy có thể giả thiết rằng nội dung những giáo lý đó ở mức độ nào đó khác hơn những gì Ngài đã dạy cho giới tu sĩ. Nếu những giáo lý này thật sự về sau kết tinh lại dưới hình thức những kinh điển Ðại thừa, chúng ta có thể ước đoán rằng những giáo lý đó nhấn mạnh lên bổn phận của người tín đồ tại gia trong việc lợi ích cho người khác cũng như trong việc phát triển giáo pháp trong toàn bộ xã hội.
Tôi có cảm nghĩ rằng Đức Thích Ca trông cậy vào giáo đoàn Tăng lữ trong việc bảo đảm phần giáo lý triết học và tôn giáo mà Ngài đã truyền dạy trong năm mươi năm sau khi giác ngộ, được lưu truyền một cách chính xác cho thế hệ sau, và đối với cư sĩ, Ngài quan tâm vào tinh thần tích cực và kiến thức về thế gian của họ, rằng họ có thể truyền bá giáo pháp vào trong lòng xã hội. Nếu giả thiết của tôi là đúng, chúng ta có thể nói rằng Đức Thích Ca Mâu Ni nhận thấy cả hai giới tu sĩ và cư sĩ đều quan trọng như nhau trong giáo pháp và rằng mỗi giới có phận sự riêng và không thể thiếu giới nào.

Xây dựng Phật Quốc độ

Sau đây, chúng ta xét qua bản dịch kinh Duy Ma Cật của ngài Cưu Ma La Thập, và nhân vật Duy Ma Cật.
Phần thứ nhất của kinh gồm có bốn phẩm, nói về những sự việc xảy ra ở vườn Ambapàli (Yêm La) ở ngoại ô thành Vaisali (Tỳ Xá Ly). Ambapàli là một kỹ nữ ở thành Vaisali (Tỳ Xá Ly) và là một Phật tử sùng tín. Ở Ấn Ðộ thời bấy giờ, kỹ nữ và gái mãi dâm được chính phủ giám sát và bảo vệ. Ambapàli được coi như một trong những tài sản của Tỳ Xá Ly, không những có sắc đẹp, lại rất thông minh và có học. Cô ta rất giàu có và làm chủ những khu vườn đẹp ở vùng ngoại ô mà cô đã dâng cúng cho Đức Phật. Trong thời gian được diễn tả trong kinh Duy Ma Cật, Đức Thích Ca Mâu Ni đã cùng với tám ngàn Tỳ kheo và ba ngàn hai trăm vị Bồ tát nghỉ dưới bóng những cây xoài trong khu vườn này.
Vào lúc đó, một người thanh niên tên là Bảo Tích cùng đi với năm trăm thanh niên quý tộc của thành Tỳ Xá Ly, mỗi người cầm một cây lọng bảy báu, đến viếng Phật. Đức Phật làm cho năm trăm cây lọng báu hiệp thành một cây lọng. Với cây lọng lớn này, Ngài che mát các cõi trong ba ngàn đại thiên thế giới. Ðoạn này có thể hiểu là từ bỏ bản ngã riêng của năm trăm người để sống trong đại ngã duy nhất của Phật. Ý nghĩa tiềm ẩn của đoạn kinh là khái niệm "nhứt niệm tam thiên", tức ba ngàn đại thiên thế giới bao hàm trong một niệm, được trình bày ở những kinh điển khác.
Bảo Tích, đầy lòng kính mộ, tụng một bài kệ tán thán Ðức Thế Tôn. Trong đó có đoạn rất nổi danh:
"Phật dạy giáo pháp chỉ một âm,
Mà mỗi chúng sanh tùy bậc hiểu".
Có nghĩa là mỗi người nghe giáo pháp của Phật sẽ hiểu khác nhau tùy theo căn tánh và khả năng. Dù giáo pháp có được trình bày hùng hồn thế nào, nếu người nghe chỉ mang quan điểm hẹp hòi của Thanh văn hay Bích chi thì cũng không thể hiểu giáo pháp Ðại thừa của Đức Phật. Mặt khác, nếu người này có tâm hồn rộng rãi có thể phóng tầm nhìn ra ngoài ba ngàn đại thiên thế giới, người ấy sẽ chứng nghiệm được ý nghĩa chân thật của Phật không gì khó khăn. Ðoạn kinh này là đoạn nhắc nhở cho chúng ta, những người tầm cầu giáo pháp, rằng một thái độ rộng rãi và cởi mở quan trọng như thế nào.
http://www.giacngo.vn/UserImages/1/2009/11/11/duyma-1.gif
Sau đó, Bảo Tích hỏi Đức Thích Ca Mâu Ni những việc Bồ tát cần làm để chứng được cõi Phật thanh tịnh. Ðức Phật trả lời: "Này Bảo Tích! Quốc độ của tất cả chúng sanh là Phật quốc độ của các Bồ tát. Vì sao? Bởi vì các quốc độ của Phật được giữ gìn do những chúng sanh được các vị Bồ tát chuyển hóa, và được giữ gìn do những chúng sanh được các Bồ tát giáo hóa. Quốc độ Phật được mở rộng do nhiều chúng sanh chứng ngộ trí huệ Phật, được mở rộng do những người giác ngộ tánh Bồ tát nơi chính mình. Như vậy, quốc độ Phật của Bồ tát là để làm lợi ích chúng sanh".
Bồ tát tu tập để thành tựu pháp giới hay Phật quốc, Phật quốc này hoàn toàn thanh tịnh, nhưng như đoạn kinh nói rõ, "những quốc độ Phật" này không phải "Cõi Tịnh độ" ở phương Tây. Những cõi Phật này có sẵn trong tâm của vị Bồ tát khi vị Bồ tát phát nguyện làm lợi ích cho tất cả chúng sanh và tinh tấn tu tập để chứng ngộ Phật quốc độ đó. Nói cách khác, quốc độ Phật được quan niệm không phải như là kết quả để đạt đến mà là động lực, hay tiến trình, để đạt đến nó. Ðó là một điển hình về tính chất năng động tiêu biểu của toàn kinh Duy Ma Cật. Ðoạn kinh trên cũng có thể được coi như là một công thức đo lường phạm vi truyền bá giáo pháp mà một người đạt tới. Khi một hành giả giảng dạy, mức độ mà người này hiểu về sứ mệnh của mình trong tư cách một Bồ tát chuyển hóa người khác vào giáo lý Ðại thừa, đưa họ vào cảnh giới trí tuệ của Phật, và giải thoát cho tất cả chúng sanh sẽ quyết định mức độ thanh tịnh và sự đạt đến bao xa trong quốc độ Phật mà người này xây dựng.
Tất cả những đoạn được trình bày ở trên đều thuộc về phẩm thứ nhứt của kinh, phẩm “Phật Quốc”. Trong phẩm thứ hai, phẩm “Phương Tiện", chúng ta sẽ khảo sát đến nhân vật đáng lưu ý là ngài Duy Ma Cật. Vimala trong tiếng Sanskrit (Phạn ngữ) có nghĩa là "không ô nhiễm", và kirti có nghĩa là "danh tiếng" hay "thanh danh". Ngài Huyền Tráng dịch là "Tịnh Danh". Ngài Cưu Ma La Thập thì dùng chữ Trung Hoa để diễn âm Phạn ngữ. Vì bản dịch của ngài Cưu Ma La Thập rất nổi tiếng và phổ biến, ở Trung Hoa tên Duy Ma Cật hay Duy Ma thường được dùng để gọi ngài Vimalakirti (Tịnh Danh).
Kinh cho chúng ta biết rằng ở Tỳ Xá Ly có một người giàu có tên là Duy Ma Cật hay "Tịnh Danh", một Phật tử tại gia có nhiều phương tiện thiện xảo để chuyển hóa quần chúng theo về với giáo pháp.
Theo kinh, ông là một người năng động. Công việc làm ăn buôn bán của ông phát đạt, và ông cũng đã phân phát của cải của ông cho đông đảo quần chúng. Ông đi mọi nơi trong thành để hướng dẫn mọi người, viếng các trường học và dạy dô các trẻ em bằng phương pháp khéo léo, và có rất nhiều bạn bè cả già lẫn trẻ. Ông thông hiểu những tác phẩm phổ biến đương thời, và được nhiều người trong giới Bà la môn mến mộ.
Kinh nói: "Khi ở với các đại thần, ông dạy giáo pháp chân thật làm lợi ích cho những đại thần tôn quý nhất". Có thể trong thực tế ông đã có thời gian làm đại thần. Ở Tỳ Xá Ly lúc đó đã có một hình thức chính phủ cộng hòa, và có thể ông đã được bầu giữ một chức vụ quan trọng. Dù thế nào, ông cũng là một công dân xuất sắc của quốc gia.
Ðịa vị của Duy Ma Cật ở Tỳ Xá Ly gợi cho chúng ta nhớ đến Socrates ở Athens. Nhưng Socrates thì không giàu có. Và nếu Duy Ma Cật có ảnh hưởng lớn lao hơn Socrates, ông cũng có diễm phúc hơn Socrates về sự tín nhiệm của quần chúng. Ðiều này được chứng minh hùng hồn trong dịp ông bị bịnh, khi đó các vua, đại thần, người già cả, cư sĩ, Bà la môn, vương tử, và các quan lại, tính tổng cộng có đến nhiều ngàn người, đến để hỏi thăm sức khỏe. Ông được sự mến mộ và cảm tình của tuyệt đại đa số quần chúng.
Lúc bấy giờ, Đức Thích Ca Mâu Ni đang ở tại vườn Yêm La (Ambapali). Ngài quyết định phái người đến thăm hỏi Duy Ma Cật. Phẩm thứ ba và thứ bốn, "Thanh văn" và "Bồ tát", diễn tả việc Đức Phật chỉ định từng vị một trong mười Ðại đệ tử của Ngài, đến Đức Di Lặc và những vị Bồ tát khác, nhận lãnh trách nhiệm. Nhưng mỗi vị, nhớ lại việc trước kia bị Duy Ma Cật phản bác, đều nói rằng mình không thích hợp với công việc được giao phó.
Như ngài Xá Lợi Phất (Shariputra), được coi như một vị "trí huệ đệ nhứt", kể lại lúc xưa có một lần khi ngài ngồi kiết già thiền định dưới một gốc cây, Duy Ma Cật xuất hiện và giảng cho ngài phương pháp đúng đắn về tọa thiền. Duy Ma Cật nói: "Này ngài Xá Lợi Phất, không phải ngồi là ngồi thiền. Ngồi thiền có nghĩa là không hiện ra trong ba cõi. Cũng có nghĩa là hiển bày chính mình trong tánh tự nhiên trong đó thân và tâm đều không còn. Có nghĩa là tu hành Phật đạo trong lúc làm những công việc hàng ngày trong thế gian. Ðó gọi là ngồi thiền".
Ngài Xá Lợi Phất không có câu trả lời. Vì lý do đó, ngài giải thích với Phật rằng ngài không thể nhận lãnh trách nhiệm thăm hỏi sức khỏe Duy Ma Cật.
Những đoạn kinh đó nhắm đến tấn công quan điểm Tiểu thừa, và nêu lên sự tu tập theo quan điểm Ðại thừa. Trong những thí dụ vừa được trích dẫn, sự tu tập của Tiểu thừa bị phê phán về chủ nghĩa hình thức mà họ rơi vào, và việc không lưu ý đến nội dung và tác dụng thực tiễn của sự tu tập. Tinh thần tiêu biểu của Ðại thừa được thấy rất rõ ràng ở đây.
Tuy nhiên, với nhiệt tâm tấn công lý tưởng Thanh văn hay Bích chi của Tiểu thừa, đôi khi kinh đã đi ra ngoài những giới hạn của lý lẽ. Một ví dụ trong kinh là ngài Xá Lợi Phất từ đầu đến cuối luôn luôn bị coi như một người làm trò. Tuy nhiên, trong thực tế, chúng ta biết ngài đã đóng một vai trò quan trọng trong giáo đoàn, là một trong những người lãnh đạo Giáo đoàn.
Một số học giả coi kinh Duy Ma Cật và kinh Pháp Hoa là cùng một "gia đình" trong kinh điển Ðại thừa. Tuy nhiên kinh Duy Ma Cật dường như vẫn còn bị dính mắc trong sự phân biệt giữa lý tưởng Thanh văn/ Bích chi của Tiểu thừa và lý tưởng Bồ tát của Ðại thừa. Sự không thể vượt qua sự phân biệt đó tạo ra một vết rạn trong kinh.

Bồ tát làm lợi chúng sanh như thế nào?

Phần thứ hai trong bản dịch của ngài Cưu Ma La Thập, từ phẩm thứ năm đến phẩm thứ chín, đưa chúng ta vào căn phòng mười bộ của ngài Duy Ma Cật. Bồ tát Văn Thù (Manjushri) thay mặt Phật đến thăm bịnh ngài Duy Ma Cật. Có tám ngàn vị Bồ tát, năm trăm vị Thanh văn, và một trăm ngàn chúng trời cùng đi với ngài. Mọi người đều nghĩ rằng những lời đối đáp giữa Đức Văn Thù và ngài Duy Ma Cật sẽ rất lợi lạc, và họ vây quanh chờ đợi.
Căn phòng mà ngài Duy Ma Cật đang nằm không có một thứ gì ngoài chiếc giường và chỉ rộng một trượng tức khoảng mười bộ, nhưng đủ chỗ cho mọi người đến thăm. Ðiều này thật khó cho người duy lý bình thường có thể hiểu và chấp nhận.
Ngay cả ngài Xá Lợi Phất cũng vậy. Ở phẩm thứ sáu, ngài đã bối rối trước sự việc mà Duy Ma Cật nói với ngài: "Thưa ngài Xá Lợi Phất! Chư Phật và Bồ tát có pháp giải thoát tên là Bất tư nghì. Khi Bồ tát trụ nơi pháp giải thoát đó, đem núi Tu Di (Sumeru) để vào trong một hột cải vẫn không dư không thiếu. Lại nữa, hình dạng núi Tu Di cũng không biến đổi, trời Tứ thiên vương và chư thiên cõi trời Ba mươi ba (Ðao Lợi) cũng không biết là mình vào trong đó. Chỉ những bậc Ứng hợp độ thế mới có thể biết rằng núi Tu Di đã được đem vào trong hạt cải. Ðó gọi là pháp môn Bất tư nghì giải thoát".
Ðoạn kinh trên là một sự trình bày về giáo lý tánh Không (Sunyata) của Ðại thừa. Những lời đối đáp giữa hai ngài Văn Thù và Duy Ma Cật cũng đặt nền tảng trên khái niệm tánh Không này, tính chất rỗng không hay vượt ngoài mọi khả năng diễn tả của thực tại. Trong phẩm thứ chín, "Nhập Bất Nhị Pháp Môn", khái niệm này được trình bày dưới nhiều góc cạnh, và được diễn tả là "không có cũng không không, không sinh cũng không diệt, không hữu vi cũng không vô vi". Ðó là tính Bất nhị không thể hiểu được bằng ngôn ngữ thông thường, cảnh giới nhất nguyên tuyệt đối.
Đó là cảnh giới mà Bồ tát dùng nhiều cách tu tập để đạt tới. Ở đây chúng ta tìm xem những sự tu tập này gồm những gì.
Trở lại với ngài Duy Ma Cật như được diễn tả trong phẩm thứ năm, "Thăm bệnh". Khi ngài Văn Thù đến bên để hỏi thăm bệnh, ngài Duy Ma Cật đã trả lời với những lời lẽ tuyệt vời như sau:
"Do từ si mê sinh ra ái, từ đó mà bịnh tôi phát sinh. Vì tất cả chúng sanh bệnh, nên tôi bệnh. Nếu bệnh của chúng sanh không còn, thì bệnh tôi không còn. Vì sao? Vì Bồ tát đi vào trong sanh tử vì lợi ích chúng sanh. Vì có sanh tử nên có bệnh. Nếu chúng sanh không còn bệnh thì Bồ tát không còn bệnh. Ví như ông trưởng giả chỉ có một người con. Nếu người con bệnh thì cha mẹ bịnh theo, nếu con lành bệnh thì cha mẹ lành bệnh. Bồ tát cũng như thế, thương tất cả chúng sanh như con. Nếu chúng sanh bệnh thì Bồ tát bệnh, nếu chúng sanh lành thì Bồ tát lành. Ngài hỏi tôi: ‘Nguyên do từ đâu mà tôi bị bệnh?’ Bệnh của Bồ tát là do tâm đại bi".
Ở đây, chúng ta thấy rõ rằng bệnh của ngài Duy Ma Cật không phải do sự mất điều hòa của năm ấm gây ra. Nguyên do của bệnh thuộc phạm vi tinh thần. Thông thường một người khỏe mạnh ít khi nào hiểu được những nỗi khổ của người bệnh. Nhưng ở đây, chúng ta được chứng kiến hạnh nguyện của vị Bồ tát: Không chỉ hiểu mà còn san sẻ những nỗi khổ của người khác, lấy nỗi khổ của người khác làm nỗi khổ của mình.
Ngài Duy Ma Cật tiếp tục giải thích những hạnh của Bồ tát như sau: "Mặc dù Bồ tát quán sát các quốc độ của chư Phật là hằng cữu và ở ngoài sinh tử, ngài vẫn làm cho những quốc độ này phô bày mọi vẻ thanh tịnh cho chúng sanh được thấy - đó là hạnh của Bồ tát. Bồ tát cầu Phật quả, thuyết pháp, nhập Niết bàn, ngài vẫn không bỏ đạo Bồ tát - đó là hạnh của Bồ tát".
Nghe những lời này của Duy Ma Cật, tám ngàn thiên tử đi theo ngài Văn Thù chứng Vô thượng Chánh giác.
Mục đích của đoạn kinh này là muốn làm sáng tỏ rằng vị Bồ tát khi thực hành những pháp môn tu tập cho bản thân cũng nỗ lực tạo "quốc độ Phật" hay thế giới lý tưởng trong xã hội thực tiễn mình đang sống. Không giống với người tín đồ Tiểu thừa theo đuổi lý tưởng A la hán, chỉ cố gắng để giải thoát bản thân khỏi khổ đau và vô minh, vị Bồ tát hiểu biết sâu xa về pháp, và từ chỗ này, cố gắng không ngừng trong việc tạo quốc độ Phật để làm lợi ích cho tất cả chúng sanh. Ðó là trách nhiệm cao cả của giáo lý Ðại thừa phó thác cho Bồ tát.
Ðể kết luận cuộc đàm thoại hùng hồn và thâm sâu giữa ngài Duy Ma Cật và Bồ tát Văn Thù về bản chất của Bồ tát, một thiên nữ trong gia đình ngài Duy Ma Cật đột nhiên xuất hiện rải hoa trời lên đại chúng. Những hoa này rơi xuống chạm vào các vị Bồ tát thì rớt xuống đất, còn những hoa rơi chạm các vị Thanh văn thì bám dính vào họ. Ngài Xá Lợi Phất và các vị đệ tử Thanh văn của Đức Phật cố gỡ những hoa này nhưng không gỡ ra được.
Thiên nữ cười, hỏi ngài Xá Lợi Phất: "Vì sao ngài lại gắng sức gỡ bỏ những hoa đó?".
Ngài Xá Lợi Phất trả lời: "Thiên nữ, tôi gỡ bỏ những hoa này vì chúng không thích hợp cho người tu sĩ!".
Thiên nữ nói rằng những hoa này tự chúng không bận tâm về việc thích hợp hay không thích hợp. Chỉ vì ngài Xá Lợi Phất và những vị Thanh văn vẫn còn nuôi dưỡng tâm phân biệt rằng có những hoa bám vào các ngài. Ðối với người tu còn sợ hãi luân hồi, các căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân đều trở thành nguồn cội của vô minh.
Tuy nhiên, ngài Xá Lợi Phất lại chế nhạo vị thiên nữ. Ngài hỏi: "Thiên nữ, vì sao cô không chuyển đổi tướng nữ nhân?".
Thiên nữ trả lời bằng cách hiển lộ thần thông chuyển ngài Xá Lợi Phất thành tướng nữ, và chuyển thân tướng mình thành thân tướng ngài Xá Lợi Phất.
Một lần nữa, cùng một vấn đề được nêu ra: Ngài Xá Lợi Phất, đại biểu cho quan điểm Tiểu thừa, không thể thoát khỏi lối suy nghĩ theo những phạm trù cứng nhắc. Dưới cái nhìn của Phật pháp, tất cả chúng sanh đều bình đẳng, nam hay nữ đều như nhau. Như lời thiên nữ nói theo lời dạy của Đức Thích Ca Mâu Ni: "Trong tính bình đẳng của tất cả chúng sanh, không có tướng nam hay tướng nữ". Đoạn kinh này rất gần với tư tưởng của phẩm mười hai trong kinh Pháp Hoa, trong đó, long nữ chuyển thành tướng nam và chứng quả Phật.
Một điểm cuối cùng cần ghi nhận trong những đoạn kinh này là sự nhiệt thành cầu giác ngộ của những người đến gặp ngài Duy Ma Cật. Nơi nào có những cư sĩ với lòng tin và sự hiểu biết sâu xa như ngài Duy Ma Cật, những vị đó sẽ tạo nguồn cảm hứng cho tất cả những người gần gũi với họ.

Giáo lý bất tư nghì

Trong phẩm thứ tám, "Phật đạo", ngài Duy Ma Cật và Bồ tát Văn Thù tranh luận về bản chất sự giác ngộ của Phật. Trong phẩm thứ chín, "Nhập Bất Nhị Pháp Môn", ba mươi hai vị Bồ tát chứng được nhiều cảnh giới trong Bất nhị pháp môn.
Đây được coi như điểm cao tột của kinh, chứa một câu bất hủ "Sự im lặng của Duy Ma Cật, giống như tiếng nổ của sấm sét". Từng vị một, các Bồ tát trình bày quan điểm của mình về tánh chất của pháp môn Bất-nhị. Nhưng đến lượt Duy Ma Cật, ngài chỉ ngồi yên lặng. Ở đây ngài tỏ bày cảnh giới Bất-nhị bằng sự im lặng, rằng cảnh giới đó luôn luôn ở trên và ở ngoài mọi ngôn ngữ, một nơi mà mọi tác động của tâm đều chấm dứt.
Bồ tát Văn Thù, đầy ngưỡng mộ với cách tỏ bày của ngài Duy Ma Cật, tán thán: "Hay thay! Hay thay! Cho đến không có văn tự ngữ ngôn, đó mới thật là nhập Bất nhị pháp môn". Và lúc đó năm ngàn vị Bồ tát liền chứng Vô sanh pháp nhẫn.
Phần cuối của kinh, từ phẩm thứ mười đến phẩm thứ mười bốn, đề cập đến Đức Phật tên Hương Tích ở cõi Chúng Hương. Đức Phật đó thuyết pháp bằng cách dùng những mùi hương vi diệu.
Những tranh luận giữa ngài Duy Ma Cật và Bồ tát Văn Thù tiếp tục cho đến gần giờ trưa. Ngài Xá Lợi Phất bâng khuâng về việc ngọ trai vì theo giới luật của các Tăng sĩ thời bấy giờ, tu sĩ không được ăn sau giờ ngọ. Ngài Duy Ma Cật nhận thấy điều đó, hỏi: "Ngài có nghĩ rằng ngài có thể nghe pháp trong khi bận tâm về thực phẩm?". Rồi ngài nói tiếp "Nếu ngài cần một thứ gì để ăn, xin hãy chờ một lát. Tôi sẽ dâng cho ngài thứ thực phẩm mà ngài chưa từng bao giờ nếm đến". Ngài Duy Ma Cật gởi một sứ giả đến cõi Chúng Hương để thỉnh một bữa ăn. Người sứ giả được gởi đến thấy mình ở trong một thế giới không sử dụng ngôn ngữ và văn tự. Phật pháp ở đó hoàn toàn được dạy bằng các loại mùi hương. Trong cõi đó không có Thanh văn hay Bích Chi, chỉ có toàn Bồ tát đã đạt đến sự thanh tịnh cao tột, và các ngài chỉ sống bằng mùi hương.
Cõi Chúng Hương, mặc dù với những tính chất thần thoại của nó, được diễn tả một cách vô cùng sống động, và chúng ta thấy những năng lực tưởng tượng lớn lao của các tác giả Ðại thừa. Các vị đó thấy rằng Chánh pháp là một thứ có thể khai mở và giải thích những bí ẩn của nguồn sống, nó nên được trình bày bằng những cảnh giới hay cái thấy vượt ngoài sự tưởng tượng thông thường của con người. Như vậy, diễn tả giáo pháp không qua ngôn ngữ mà bằng các loại hương là một cách làm khuấy động tâm thức để đưa vào một thức giác siêu việt.
Kinh tiếp tục nói rõ rằng, nhìn từ cõi Chúng Hương, thế giới của chúng ta là một nơi đầy tội lỗi và đồi trụy, đầy dẫy những chúng sanh với tâm linh nhì nhằng và có khuynh hướng về những mục tiêu thấp kém, làm cho chư Phật và Bồ tát khó khăn trong việc hóa độ. Ở đây, chư Phật phải dùng ngôn ngữ để dạy dỗ thay vì dùng các mùi hương, và chư Bồ tát phải đi vào những cảnh giới thấp kém để chiến đấu một cách mãnh liệt và không ngừng trong việc khắc phục sự xấu ác.
Ngài Duy Ma Cật, khi nghe các vị Bồ tát ở cõi Chúng Hương nói, trả lời rằng các vị Bồ tát ở thế giới chúng ta có "mười thiện pháp". Mười thiện pháp này bao gồm những hạnh mà các ngài tu tập. Những hạnh chính là sáu Ba la mật, gồm bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, và trí huệ.
Tám pháp mà vị Bồ tát tuân giữ trong đời sống tu tập ngày nay cũng bắt nguồn từ khuôn mẫu của ngài. Tám pháp này rất thiết thực về mặt đạo đức cho con người ngày nay, cả nam cũng như nữ, tôi xin trích ra đầy đủ:
1- Lợi ích chúng sanh mà không mong đền đáp.
2- Chịu mọi điều khổ thế cho chúng sanh.
3- Bao nhiêu công đức thành tựu đều hồi hướng cho chúng sanh.
4- Có lòng bình đẳng đối với chúng sanh, khiêm nhường đối với chúng sanh, không khởi tâm chướng ngại đối với chúng sanh. Ðối với Bồ tát, xem như Phật.
5- Những kinh chưa nghe, nghe không nghi; không tranh luận với các vị Thanh văn.
6- Không ganh tỵ khi người khác được cúng dường, không kiêu căng với thu hoạch của mình, luôn kiểm soát tự tâm.
7- Thường xét lỗi mình, không nói điều xấu của kẻ khác.
8- Luôn giữ tâm không lay chuyển và tinh tấn trong mọi hạnh lành.
Nếu có người hết lòng trong việc làm lợi ích và cứu giúp người khác, người đó thực hành tám pháp này. Người ta có thể thấy ngay rằng, ngược lại với những giới luật tiểu tiết và khắt khe của Tiểu thừa, những điều này từ bản chất là những mục đích đạo đức rộng lớn trong việc hướng dẫn tư cách và hành động của một người.
Sau đó, kinh một lần nữa trở lại với khu vườn Âm La (Pabapàli), nơi đây lý lịch thật của Duy Ma Cật được cho biết thêm, và chấm dứt với sự phó chúc bản kinh cho ngài Di Lặc (Maitreya) và A Nan (Ananda).
Tên khác của kinh Duy Ma Cật là Bất Tư Nghì Giải Thoát, và chắc chắn nhân vật Duy Ma Cật, như được diễn tả trong kinh, vẫn mang đầy sự bí ẩn và kỳ diệu. Ông đại biểu cho lý tưởng cư sĩ tại gia như được định hình từ hai ngàn năm trước


Daisaku Ikeda - Nguyên Hảo dịch
--------------------------------------------------------------------------
Nguồn: giacngo.vn