PDA

Xem bản đầy đủ : Thân trung ấm


Diệu Bích
13-02-2009, 07:38
Thân trung ấm (TTA)


Nói đến TTA là nói đến một khái niệm rất rộng lớn và có nhiều định nghĩa khác nhau. Hôm nay tôi cũng thử mạn phép được bàn về vấn đề này. Tuy nhiên, tất cả cũng chỉ theo sự hiểu biết nôm na và hạn hẹp của mình, vì vậy tôi mong được các bạn chia sẻ và góp ý.


Bất cứ ai trong đời cũng đều tự hỏi “Khi chết mình sẽ đi về đâu? Về địa ngục, hay quay lại làm người, làm súc sinh, quỷ thần…?” Vậy TTA là giai đoạn trung gian sau khi chết để chờ tái sinh vào các cõi trên phù hợp theo nghiệp lực của từng người.


Sau khi chết, thần thức thoát ra khỏi xác và trụ lại ở TTA từ một đến bảy tuần rồi đi tái sinh. Nếu chưa tìm được chỗ tái sinh, có thể thần thức lại chuyển qua một TTA khác và cứ lặp đi lặp lại cho đến khi tìm được chỗ tái sinh.


Trong thời gian này, các vong linh thường phải mất từ 3 đến 4 ngày mới hiểu mình đã chết (họ thường vẫn quanh quẩn ở nơi mất). Khi nhận ra mình đã chết, thì tất cả những buồn đau, vui sướng, làm thiện, làm ác của họ hiện ra như một cuốn phim. Nếu khi sống họ tạo nhiều ác nghiệp sẽ đối mặt với cảnh tượng khổ đau, kinh hoàng… và sẽ tái sinh vào nơi không tốt, phù hợp với nghiệp lực của mình. Còn khi sống họ làm điều thiện thì sẽ thanh thản tái sinh vào cõi lành.


Khi ở TTA, mà vong linh còn tham luyến, còn muốn giải quyết việc ở cõi đời chưa làm xong, còn oan ức… thì thời gian ở TTA có thể không chỉ là 1 đến 7 tuần mà là 1 năm hoặc cho đến tận vài trăm kiếp, gọi là “hồn ma bóng quế”.


Câu hỏi đặt ra cho các bạn là thế còn người tu tập thì sao? Có phải rơi vào giai đoạn TTA sau khi chết không? Có phải chịu khổ đau… và luân hồi, tái sinh không?


Người tu tập có thể sẽ làm chủ được thần thức của mình và lựa chọn cho mình cảnh giới tốt để tái sinh, tiếp tục tu luyện hoặc cứu độ chúng sinh (như các Latma hóa thân ở Tây Tạng. Điều này các bạn cứ hỏi Thầy LaDuyKhanh thì rõ). Hoặc nếu khi sống và trước khi mất họ có TÍN - HẠNH - NGUYỆN, niệm Phật, nguyện tha thiết được về Tây phương… thì sẽ được Đức Phật đón thẳng về Tây phương, không phải qua giai đoạn TTA. Tuy nhiên, nếu chẳng may rơi vào giai đoạn TTA, nhưng vẫn nhớ niệm Phật, cầu Phật tha thiết đón về Tây phương thì cũng sẽ cảm ứng đến Đức Phật mà được về Tây phương.


Vậy mục đích của câu chuyện tôi đưa ra về TTA là gì? Các bạn hãy mau mau tu tập, làm nhiều việc thiện, không tham luyến cõi đời, không thù oán, chấp khổ điều gì nữa… để sau khi mãn báo thân không phải luân hồi, chờ tái sinh nữa, vì biết được mình có tái sinh vào địa ngục hay súc sinh, nếu có lại làm người thì cũng đâu sung sướng gì cho cam phải không các bạn? Chỉ có con đường giải thoát về Tây phương là viên mãn thôi.

Các bạn cũng hãy cầu nguyện, hồi hướng công đức cho người thân của mình đã mất, nếu chưa tái sinh thì cũng biết niệm Phật, xin Đức Phật được về Tây phương an lành các bạn nhé!



Kể chuyện mà không có ví dụ cũng chán phải không các bạn? Vậy nhân đây tôi cũng xin có vài ví dụ minh họa cho các bạn.

Câu chuyện thứ nhất: Còn oan ức, không xả bỏ, còn ở TTA, không thể tái sinh (hay còn gọi là “hồn ma bóng quế”).

Các bạn có tin không? Một vong hồn còn oan ức, họ sẽ ở lại TTA với thời gian rất lâu như tôi đã trình bày ở trên. Một vong hồn oan ức sẽ có 1 vòng tròn đỏ đeo ở tay (cái vòng này các bạn hãy tưởng tượng như vòng kim cô của Tôn Ngộ Không ấy, nó màu đỏ như lửa bao quanh ở cổ tay vậy). Đây là câu chuyện có thật, nhiều người đã được chứng kiến. Còn tôi xin được giấu vì sao tôi biết.

Một vũ trường ở Sài Gòn không hiểu sao nhân viên xuống hầm rượu lấy rượu đều bị choáng, ngất và như có ai đánh vào đầu, rồi thang máy đôi lúc thì đang đi lại dừng mà không rõ nguyên do… Rất nhiều hiện tượng lạ xảy ra mà họ không hiểu được. Cho đến ngày họ mời một người Thầy đến xem nguyên nhân tại sao. Khi bước vào, người Thầy này cảm thấy có vong linh đang lẩn khuất ở vũ trường và liền khấn một lúc. Tuy nhiên vì muốn có sự chứng kiến của nhiều người để họ tin tưởng, người thầy mời vong linh hiện ra cho mọi người được nhìn thấy.
Vong linh đồng ý, đó là một cô gái trẻ đẹp, tuy nhiên trên cổ tay cô lại xuất hiện 1 vòng tròn đỏ như lửa bao quanh (có hình chụp, tuy nhiên tôi xin mạn phép không đưa ra, và khi viết bài này tôi xin cô cho phép tôi vì cũng chỉ vì mục đích tốt, cho mọi người hiểu mà mau tu tập thôi). Cô kể tên tuổi, địa chỉ thật của mình, và nỗi oan ức mình đã phải nếm trải (tôi xin không đưa ra vì nỗi đau của cô quá lớn), cô tên là T., nhà ở Cần Thơ, trước khi mất làm gái nhảy, và cô đã chết oan ức nên vong linh còn lẩn khuất ở nơi mất, tức là ở vũ trường này. Mọi người đều ngạc nhiên và thương cảm hỏi cô có ước nguyện gì và khuyên hãy xả bỏ tất cả mà ra đi. Tuy nhiên cô không chịu đi, chỉ xin ở lại và hứa sẽ giúp gia chủ không quấy nhiễu nữa. Viết đến dòng này, tôi cũng xin cầu nguyện cho cô biết được đến câu Phật niệm mà cầu Phật vãng sinh về Tây phương sớm, cho thoát khỏi khổ đau. NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT!


Câu chuyện thứ hai: Lời khuyên TTA còn luyến tiếc cõi đời.
Đây là câu chuyện xảy ra với bản thân tôi. Tôi đã nằm mơ thấy 1 điều rất lạ. Có một đêm tôi mơ thấy 1 người gọi tôi ở ngoài cửa. Cứ gọi tôi mãi, tôi không trả lời, cuối cùng tôi đi ra thì thấy cô tôi. Cô tôi níu kéo tôi rồi nói: “Tôi là ma, muốn nhờ một việc”. Làm tôi hết cả hồn và bảo: “Bà này vớ vẩn, cứ trêu cháu”. Người này nằn nỉ mãi tôi: “Không tôi không phải cô của chị, tôi chỉ mượn cô của chị để đến nhờ chị thôi, tôi là ma thật”. Tôi không chịu tin, rồi bỏ đi, người này liền theo tôi và nhảy từ tầng 2 xuống để cho tôi tin họ là ma mới có thể nhảy từ trên cao xuống mà không sao. Cuối cùng tôi đành chấp nhận.

Rồi cô ta nói tên là Thuần, có cả địa chỉ nhà hẳn hoi (tôi lại xin được giấu) kể về hoàn cảnh của mình, cô ta có 2 đứa con gái, 1 đứa lên 6 tuổi và 1 đứa lên 4 tuổi (hay lên 2 tôi cũng không nhớ rõ nữa) nhờ tôi dẫn cho gặp lại 2 đứa con.

Tôi không hiểu sao, lúc đó tôi vô minh, chưa biết đến Phật pháp mà tôi lại có thể ngồi thuyết pháp cho cô ấy một bài rất dài, cứ như 1 vị hòa thượng vậy, đến chính tôi cũng ngạc nhiên về khả năng của mình. Đại thể là khuyên cô ta hãy xả bỏ tất cả mà ra đi đi. Nếu cô ta còn gặp lại con của cô thì sẽ không tốt cho cả người đã mất lẫn người còn sống. Người còn sống sẽ bị giảm tuổi thọ nếu gặp người mất, còn người mất sẽ tham luyến cuộc đời, sẽ mãi là hồn ma vất vưởng…

Nghe xong một lúc, cô ta hiểu ra, thoát hồn ra khỏi xác của cô tôi. Lúc đó tôi còn nhìn thấy cô ta mỉm cười, nụ cười thật tươi và hiền lành, chào tôi ra đi. Đó là một người đàn bà phúc hậu, tóc ngắn ngang vai, mặc áo đỏ… Giờ tôi lại niệm Phật để cô ta nếu chưa ra đi hãy biết đến câu A DI ĐẦ PHẬT, xin vãng sinh về Tây phương.


Còn nhiều câu chuyện khác, tôi được chứng kiến hoặc xảy ra ngay đối với bản thân tôi, tôi xin được kể sau. Tôi cũng xin Admin cho tôi được post bài ở “Kinh nghiệm tu tập” vì thực ra bài này phải post ở phần Tổng quan, tuy nhiên đây cũng là những gì tôi đã tích lũy được trong quá trình tu tập của mình, mong được các bạn chia sẻ và góp ý.


NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT! Cầu cho mọi chúng sinh còn vất vưởng trong TTA, hãy biết khởi câu Phật niệm, buông xả vạn duyên, an nhiên, tự tại về thế giới an lành. NAM MÔ ĐẠI TỪ ĐẠI BI TIẾP DẪN ĐẠO SƯ A DI ĐÀ PHẬT!

Diệu Ngà
13-02-2009, 12:19
Chị aida ơi, cảm ơn chị đã có những chia sẻ thực lòng giúp mọi người ngày một hiểu hơn để càng phải cố gắng hơn nữa trong việc tu tập.
Em thì chưa bao giờ thấy ma cả, nhưng mà từ trước giờ em vẫn thắc mắc là tại sao có người chết thì tái sinh ngay (như mọi người hay nói là đầu thai đó), còn có những người mà chết đã lâu lắm rồi sao vẫn chưa tái sinh được (qua việc gọi hồn đó chị). Giờ đọc bài này của chị thì em đã hiểu được nguyên nhân rồi.
Chị ơi, Chồng của em gái chồng em bị mất vì bị ung thư chị ạ. Hồi đó em chưa biết đến niệm Phật cầu vãng sanh nên em chẳng giúp được gì cả. Em còn nhớ, lần cuối về thăm em chồng em trước khi em chồng em mất, hình ảnhh một người chỉ còn là bộ da bọc xương trông tội nghiệp và đáng thương lắm chị ạ. Giờ em đã biết đến niệm Phật cầu vãng sanh, em rất muốn khuyên em gái chồng em niệm Phật cầu vãng sanh cho chồng nó, nhưng mà em chẳng biết bắt đầu thế nào. Vì bố chồng em không tin vào việc này, mà em chồng em hiện lại đang ở nhà của bố mẹ chồng em.( Trước đây khi còn chưa ngộ đạo Phật, em đã có lần khuyên em chồng em đi gọi hồn chồng nó đấy chị ạ, thật là ngu ngốc quá đi mất. May mà chưa thực hiện)
Em thấy buồn quá, vì mình biết mà không khuyên được người khác, mà những người đó đều là người thân yêu của mình. Giờ hoàn cảnh của em chồng em cũng khó khăn lắm, một mình phải nuôi hai con nhỏ (một đứa 5 tuổi, 1 đứa 3 tuổi). Các anh chị thì cũng chỉ giúp đỡ được phần nào thôi, còn thì bản thân nó vẫn phải lo là chình. Bên nhà chồng nó thì nghèo lắm, sau khi chồng nó mất, mấy tháng sau thì bố chồng nó cũng mất. Theo ở quê thì đó là bị trùng tang, hôm vừa rồi em về quê ăn Tết thì nghe em chồng em nó kể, mẹ chồng nó bị ma nhập, cứ cười nói lung tung nghe ghê lắm, rồi nhà phải mời thầy đến cúng mới hết (mà mẹ chồng nó bị mấy lần rồi).
Giờ thực lòng em muốn em chồng em hiểu sự nhiệm màu của Phật Pháp và phát tâm niệm Phật, nhưng mà khó quá, em không biết phải làm thế nào bây giờ?

Diệu Bích
13-02-2009, 13:28
Chị chia sẻ với em về việc khuyên người thân niệm Phật. Bản thân chị cũng vậy, từ khi chị niệm Phật chị khuyên được rất nhiều người niệm Phật, nhưng đối với người thân của chị thì chưa khuyên được ai cả.

Nói ra thì thực buồn lòng, không dám khuyên nhiều sợ họ phạm phải tội phỉ báng pháp.

Tuy nhiên mình niệm Phật, hồi hướng công đức cho họ, từ từ họ cũng được khai mở trí huệ, biết đến câu A DI ĐÀ PHẬT thôi em ạ. Nên em đừng lo nhiều nhé, cứ giúp họ từng bước, đừng vội vàng.

Nếu cố hết sức mà không được, tức là mình khuyên nhiều rồi mà không nghe thì đành để 2 chữ "tùy duyên" thôi em ạ. Mình mà được vãng sinh về Tây phương thì có thể quay lại cứu độ được người thân từ vô lượng kiếp của mình đấy, nên bản thân em trước hết phải cố gắng đã nhé! Độ người trước hết phải độ ta đã.

Cảm ơn em đã có lời đóng góp chân thành, em cũng là động lực cho chị tiến bước hơn nữa trên con đường đã chọn.

Nhớ nhé em, mình theo Phật chứ không theo ai khác cả! NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT!@};-:x@};-

Diệu Ngà
13-02-2009, 15:01
Chị ơi, từ khi biết niệm Phật và được là thành viên của HBS em đã ngộ được nhiều điều lắm chị ạ. Em thực sự coi đây là ngôi nhà thứ hai của mình. Ở đây, khi có tâm sự gì buồn hay vui đều có người chia sẻ. Em đã nguyện đời này kiếp này sẽ chỉ nghe theo Phật,một lòng niệm Phật với ý nguyện lớn nhất là đươc vãng sanh về đất Phật.
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT

Tư Huệ
13-02-2009, 17:21
Chị aida ơi, trong đầu em lúc nào cũng có câu của chị ở phần chữ ký ấy. Em còn đọc cho bạn nghe và khuyên bạn hãy cố gắng tĩnh tâm như thế. Em cũng đang cố gắng gạt hết tham, sân, si để được như chị khuyên. Mà kể cũng màu nhiệm thật, em "thôi" không giận chồng nữa ...lại thấy tình củm hơn... còn nhiều điều lắm.Cảm ơn chị .:x

Diệu Bích
13-02-2009, 17:47
Cảm ơn bạn Tư Huệ nhiều lắm! Câu dưới chữ ký của mình là của Thầy Thiên Vương đấy bạn ạ. Lúc trước đầu óc mình cũng lung tung lắm, nên luôn nghĩ đến 2 câu này mà cố gắng xả bỏ. Giờ thì thấy bình tâm, an lạc nhiều rồi.

Nhân tiện, con cũng xin cảm ơn Thầy Thiên Vương! Cảm ơn những bài giảng gần gũi, chân thật, có ích của Thầy!:x

botatdao
16-02-2009, 12:13
Chậc, bạn aida nhầm TTA với ma rồi, TTA chỉ có thể sống tồn tại đến 7 ngày, nhưng nếu chưa tìm được một nơi đầu thai phù hợp với nghiệp lực của mình thì nó sẽ chết đi và tái sanh lại làm một TTA nữa, và nếu chưa tìm được một nơi đầu thai phù hợp, chu kỳ sẽ cứ thế lập lại cho đến 7 lần, và tổng cộng thời gian sống tối đa của TTA là 7 (ngày) x 7 (lần)=49 ngày, quá 49 ngày mà còn chưa đầu thai thì sẽ trở thành vong linh hay còn gọi là ma.

Như Kim
28-02-2009, 15:57
Chậc, bạn aida nhầm TTA với ma rồi, TTA chỉ có thể sống tồn tại đến 7 ngày, nhưng nếu chưa tìm được một nơi đầu thai phù hợp với nghiệp lực của mình thì nó sẽ chết đi và tái sanh lại làm một TTA nữa, và nếu chưa tìm được một nơi đầu thai phù hợp, chu kỳ sẽ cứ thế lập lại cho đến 7 lần, và tổng cộng thời gian sống tối đa của TTA là 7 (ngày) x 7 (lần)=49 ngày, quá 49 ngày mà còn chưa đầu thai thì sẽ trở thành vong linh hay còn gọi là ma.

Nhưng cuối cùng nếu sau 49 ngày mà vẫn chưa đầu thai theo đúng nghiệp lực thì sẽ là ma mãi mãi à? Hay trong bao lâu nữa? Và trong 49 ngày thì người sống nên làm gì cho người mất đi được tốt hơn?

Quảng Nghiêm
01-03-2009, 16:15
Nhưng cuối cùng nếu sau 49 ngày mà vẫn chưa đầu thai theo đúng nghiệp lực thì sẽ là ma mãi mãi à? Hay trong bao lâu nữa? Và trong 49 ngày thì người sống nên làm gì cho người mất đi được tốt hơn?

CHÀO NHƯ KIM!
Phật dạy ta có 2 loại người sau khi mất sẽ không phải trải qua giai đoạn thân trung ấm!

Loại người thứ nhất là cực thiện, tu hành tinh tấn làm nhiều việc thiện lành, thì sau khi mất người này sẽ tái sanh vào cõi của Chư Phật hay là lên Trời.

Loại người thứ hai là cực ác, chuyên làm những việc ác hại người, hại chúng sanh mà không bao giờ biết sám hối, thì sau khi mất người này sẽ bị đọa thẳng xuống Địa Ngục mà không cần phải qua giai đoạn thân Trung ấm.

Còn tất cả người còn lại sau khi mất đều phải qua giai đoạn thân trung ấm, trong 49 ngày để luận tội nặng nhẹ mà được tái sanh theo nghiệp quả! Nếu sau 49 ngày người này chưa được tái sanh thì họ sẽ bị đọa vào nơi Quỷ Thần ( Cảnh giới Ngạ Quỷ ), lúc này đây tùy theo nghiệp thiện lành ít hay nhiều của họ mà được dự vào loài Quỷ đói, hay loài Quỷ được hưởng những công đức.

Cái mà ta gọi là những hồn Ma thật tế nó là cảnh giới của Ngạ Quỷ, nó cũng được chia ra nhiều tầng lớp tùy theo nghiệp duyên của người đó lúc còn sống đã làm nhiều việc có ích cho người hay là chuyên môn hại người! Các bạn chắc cũng đã từng nghe nhiều người kể về người thân của họ sau khi chết qua 49 ngày hay 100 ngày rồi vẫn về báo mộng hay hiện về khóc lóc vì đói khát và khổ sở đúng không??? Vì họ đang bị đọa đấy, cho dù người đó chết như thế nào thì người nhà cũng nên trong 49 ngày của họ tụng kinh niệm Phật, phóng sanh, bố thí, cúng dường trai Tăng và hồi hướng cho họ, thì sẽ giúp ích rất nhiều cho họ đấy! Hằng ngày ta đến trước bàn thờ Linh của họ mà khuyên bảo họ niệm Phật và buông xả tất cả những cái chấp của họ, và buông bỏ hết tất cả những tình ái của thế gian mà lo chuyên lòng niệm Phật.

Nếu ta khuyên bảo họ mà họ chịu nghe lời ta mà buông bỏ tất cả chỉ chuyên niệm Phật A Di Đà thì ngay lúc đó họ sẽ thấy một tòa Sen của Đức Phật A Di Đà đến tiếp dẫn họ thẳng về Ao Thất Bảo bên Tây Phương Cực Lạc và được chứng vào Hạ Phẩm Hạ Sanh!

Còn nếu như ta khuyên họ mà họ vẫn cố chấp không chịu buông xả và vẫn luyến ái chuyện thế gian, thì họ sẽ vẫn bị đọa lạc trong kiếp sống khổ sở như thế có thể là vài trăm năm sau cũng chưa được tái sanh nữa...!

Vài lời chia sẻ với Như Kim!

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT

Như Kim
01-03-2009, 21:50
Ồ, bây giờ thì muội hiểu hơn rồi. Cảm ơn huynh ạ.

botatdao
03-03-2009, 09:53
Chậc, TUKHANH sai một điểm, ngạ quỷ khác với vong linh, ngạ quỷ là một cảnh giới khác, người chết đi tuỳ theo nghiệp của mình sẽ trở thành TTA, nếu ác nghiệp quá nặng và gặp đủ duyên sẽ đầu thai thành ngạ quỷ.

Còn vong linh họ không giống ngạ quỷ, ko phải chịu sự đau khổ như ngạ quỷ nhưng họ có một nỗi niềm đó chính là sự cô đơn, lạnh lẽo và sự khát khao muốn tìm lại chính mình. Và những nỗi niềm đó có thể theo cùng họ kéo dài cho đến ngàn năm hay vạn năm nữa.

Có một điều mà mình muốn nói với các bạn Tịnh độ rằng đừng trong chờ quá nhiều vấn đề hộ niệm cho người chết. Nếu bạn muốn hộ niệm cho người chết, điều đầu tiên là bạn phải có đạo lực đủ mạnh, nếu không, không những không giúp họ vãng sanh mà còn khiến họ không đi đầu thai được, lúc đó họ sẽ trở thành vong linh đi theo bạn, nếu bạn đi chẩn tế nhiều mà không có đủ đạo lực sẽ có nhiều phần vong linh đi theo, lúc đó bạn sẽ bị bệnh, đau đầu, chóng mặc, buồn nôn, v.v.... người ta gọi đó là lãnh nghiệp. Bởi thế mà đa số các thầy trên chùa bị bệnh là thế đó.

Quảng Nghiêm
03-03-2009, 10:13
Chậc, TUKHANH sai một điểm, ngạ quỷ khác với vong linh, ngạ quỷ là một cảnh giới khác, người chết đi tuỳ theo nghiệp của mình sẽ trở thành TTA, nếu ác nghiệp quá nặng và gặp đủ duyên sẽ đầu thai thành ngạ quỷ.

Còn vong linh họ không giống ngạ quỷ, ko phải chịu sự đau khổ như ngạ quỷ nhưng họ có một nỗi niềm đó chính là sự cô đơn, lạnh lẽo và sự khát khao muốn tìm lại chính mình. Và những nỗi niềm đó có thể theo cùng họ kéo dài cho đến ngàn năm hay vạn năm nữa.

Có một điều mà mình muốn nói với các bạn Tịnh độ rằng đừng trong chờ quá nhiều vấn đề hộ niệm cho người chết. Nếu bạn muốn hộ niệm cho người chết, điều đầu tiên là bạn phải có đạo lực đủ mạnh, nếu không, không những không giúp họ vãng sanh mà còn khiến họ không đi đầu thai được, lúc đó họ sẽ trở thành vong linh đi theo bạn, nếu bạn đi chẩn tế nhiều mà không có đủ đạo lực sẽ có nhiều phần vong linh đi theo, lúc đó bạn sẽ bị bệnh, đau đầu, chóng mặc, buồn nôn, v.v.... người ta gọi đó là lãnh nghiệp. Bởi thế mà đa số các thầy trên chùa bị bệnh là thế đó.

CHÀO BẠN!
Về vấn đề bạn nói như trên chúng ta sẽ không bàn luận đến nữa vì tránh những điều rắc rối không đáng có! Qua những gì bạn viết trên đây thì tôi đã hiểu bạn là ai rồi:)), cám ơn những lời khuyên của bạn nhé! Nhưng có một điều tôi cũng tâm sự nhỏ nhỏ với bạn, bạn chưa thật sự hiểu hết ý nghĩa của pháp môn Tịnh Độ, và cũng chưa hiểu hết về những điều trợ niệm trong pháp môn Tịnh Độ nó thù thắng như thế nào...Tôi xin được phép không nói ra ở đây, vì những điều như thế chỉ dành riêng cho những người tu Tịnh Độ, tránh những phiền phức không đáng có khác. Chắc bạn hiểu ý tôi nói phải không:D???

Cám ơn những gì bạn chia sẻ nhé:D!

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT

botatdao
03-03-2009, 10:52
CHÀO BẠN!
Về vấn đề bạn nói như trên chúng ta sẽ không bàn luận đến nữa vì tránh những điều rắc rối không đáng có! Qua những gì bạn viết trên đây thì tôi đã hiểu bạn là ai rồi:)), cám ơn những lời khuyên của bạn nhé! Nhưng có một điều tôi cũng tâm sự nhỏ nhỏ với bạn, bạn chưa thật sự hiểu hết ý nghĩa của pháp môn Tịnh Độ, và cũng chưa hiểu hết về những điều trợ niệm trong pháp môn Tịnh Độ nó thù thắng như thế nào...Tôi xin được phép không nói ra ở đây, vì những điều như thế chỉ dành riêng cho những người tu Tịnh Độ, tránh những phiền phức không đáng có khác. Chắc bạn hiểu ý tôi nói phải không:D???

Cám ơn những gì bạn chia sẻ nhé:D!

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT

Mình không nghi ngờ về pháp môn tịnh độ, pháp môn nào cũng thù thắng, nhưng quan trọng là người thực hành pháp môn đó như thế nào, bởi thế nó thù thắng nhưng quan trọng là thù thắng đối với ai.

Mình xin kể bạn một câu chuyện. Có 2 ông nhà sư đi chuẩn tế. Một ông khi đi chuẩn tế thì không bị gì cả, còn một ông thì sau khi đi chuẩn tế thì bị đau đầu, ăn uống rất khó khăn, nguyên lai là ông sư thứ nhất do không có tâm nên khi hộ niệm cho người chết mà chẳng ảnh hưởng đến tâm thức của người chết. Còn nhà sư thứ hai do ông ta có tâm muốn người này được vãng sanh nên trong lúc hộ niệm ông ấy dốc hết tâm lực của mình, nhưng do đạo lực chưa đủ nên không những không giúp người kia vãng sanh mà còn khiến người chết lưu luyến ông ta không muốn đi và cuối cùng là theo ông ta luôn.

Tất cả đều là thực, pháp môn tịnh độ dựa vào Tín, Nguyện, Hạnh. Nhưng Tín Nguyện Hạnh của mỗi người khác nhau, và điều đó chỉ qua thực hành tin tấn mới có thể có được Tín, Nguyện, Hạnh mạnh mẽ.

Mình không muốn tranh luận hơn thua, nhưng thực tế là như vậy và nếu bạn không tin thì cứ tìm hiểu thực tế và nếu bạn khai nhãn rồi bạn sẽ thấy được có những ông sư mà vong linh bám theo cả tá ấy chứ.

Quảng Nghiêm
03-03-2009, 11:23
Tôi hiểu bạn muốn nói gì! Pháp môn Tịnh Độ có một chổ tối cao nhất mà không phải ai cũng biết được...Tôi cũng cám ơn những lời chia sẻ của bạn nhiều nhé:D!

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT

minhminh
05-03-2009, 21:15
minh minh thấy bạn bồ tát đạo và bạn Tú Khanh có bài viết rất hay. và qua đó mình cũng hiểu rằng các bạn đang thường xuyên thực hành, chứ không chỉ có lý thuyết suông...theo ý mình thì trên phương diện tuyệt đối thì bạn Tú Khanh rất đúng...Nhưng trên phương diện tương đối, tức là một phần của toàn cảnh ( thế giới của chúng ta sống...chỉ là một phần của toàn cảnh), thì cái nhìn vấn đề của bạn bồ tát đạo rất chính xác. Do vậy qua đó chúng mình càng nên tinh tấn tu hành, vì mình còn chẳng độ được mình thì nói gì độ ai. Phật pháp rất vi diệu, nhưng bao nhiêu vong lên chùa nghe kinh, mà có phải bấy nhiêu vong được siêu thoat đâu. Phật đến mời đi, mà họ đã không thích thì phật cũng đành chịu....Chúng mình cùng nhau tu tập cho định lực thêm vững mạnh để độ người mà không bị người...độ( bị người ảnh hưởng) nhé

Diệu Bích
05-03-2009, 23:31
minh minh thấy bạn bồ tát đạo và bạn Tú Khanh có bài viết rất hay. và qua đó mình cũng hiểu rằng các bạn đang thường xuyên thực hành, chứ không chỉ có lý thuyết suông...theo ý mình thì trên phương diện tuyệt đối thì bạn Tú Khanh rất đúng...Nhưng trên phương diện tương đối, tức là một phần của toàn cảnh ( thế giới của chúng ta sống...chỉ là một phần của toàn cảnh), thì cái nhìn vấn đề của bạn bồ tát đạo rất chính xác. Do vậy qua đó chúng mình càng nên tinh tấn tu hành, vì mình còn chẳng độ được mình thì nói gì độ ai. Phật pháp rất vi diệu, nhưng bao nhiêu vong lên chùa nghe kinh, mà có phải bấy nhiêu vong được siêu thoat đâu. Phật đến mời đi, mà họ đã không thích thì phật cũng đành chịu....Chúng mình cùng nhau tu tập cho định lực thêm vững mạnh để độ người mà không bị người...độ( bị người ảnh hưởng) nhé

Cảm ơn bạn minhminh (hình như phải gọi bằng cô hay bác thì đúng hơn phải không ạ?). Lúc đầu aida cũng hiểu huynh botatdao nói như ý bạn minhminh vậy. Trước tiên phải độ mình đã thì mới có thể độ người khác được.

Cảm ơn cả huynh Từ Khánh nữa, huynh cũng góp phần cho mọi người củng cố lòng tin hơn trên con đường đã và đang đi!:x

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT!

Diệu Thảo
18-05-2009, 13:35
CHÀO NHƯ KIM!
Phật dạy ta có 2 loại người sau khi mất sẽ không phải trải qua giai đoạn thân trung ấm!

Loại người thứ nhất là cực thiện, tu hành tinh tấn làm nhiều việc thiện lành, thì sau khi mất người này sẽ tái sanh vào cõi của Chư Phật hay là lên Trời.

Loại người thứ hai là cực ác, chuyên làm những việc ác hại người, hại chúng sanh mà không bao giờ biết sám hối, thì sau khi mất người này sẽ bị đọa thẳng xuống Địa Ngục mà không cần phải qua giai đoạn thân Trung ấm.

Còn tất cả người còn lại sau khi mất đều phải qua giai đoạn thân trung ấm, trong 49 ngày để luận tội nặng nhẹ mà được tái sanh theo nghiệp quả! Nếu sau 49 ngày người này chưa được tái sanh thì họ sẽ bị đọa vào nơi Quỷ Thần ( Cảnh giới Ngạ Quỷ ), lúc này đây tùy theo nghiệp thiện lành ít hay nhiều của họ mà được dự vào loài Quỷ đói, hay loài Quỷ được hưởng những công đức.

Cái mà ta gọi là những hồn Ma thật tế nó là cảnh giới của Ngạ Quỷ, nó cũng được chia ra nhiều tầng lớp tùy theo nghiệp duyên của người đó lúc còn sống đã làm nhiều việc có ích cho người hay là chuyên môn hại người! Các bạn chắc cũng đã từng nghe nhiều người kể về người thân của họ sau khi chết qua 49 ngày hay 100 ngày rồi vẫn về báo mộng hay hiện về khóc lóc vì đói khát và khổ sở đúng không??? Vì họ đang bị đọa đấy, cho dù người đó chết như thế nào thì người nhà cũng nên trong 49 ngày của họ tụng kinh niệm Phật, phóng sanh, bố thí, cúng dường trai Tăng và hồi hướng cho họ, thì sẽ giúp ích rất nhiều cho họ đấy! Hằng ngày ta đến trước bàn thờ Linh của họ mà khuyên bảo họ niệm Phật và buông xả tất cả những cái chấp của họ, và buông bỏ hết tất cả những tình ái của thế gian mà lo chuyên lòng niệm Phật.

Nếu ta khuyên bảo họ mà họ chịu nghe lời ta mà buông bỏ tất cả chỉ chuyên niệm Phật A Di Đà thì ngay lúc đó họ sẽ thấy một tòa Sen của Đức Phật A Di Đà đến tiếp dẫn họ thẳng về Ao Thất Bảo bên Tây Phương Cực Lạc và được chứng vào Hạ Phẩm Hạ Sanh!

Còn nếu như ta khuyên họ mà họ vẫn cố chấp không chịu buông xả và vẫn luyến ái chuyện thế gian, thì họ sẽ vẫn bị đọa lạc trong kiếp sống khổ sở như thế có thể là vài trăm năm sau cũng chưa được tái sanh nữa...!

Vài lời chia sẻ với Như Kim!

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
Hôm vừa rồi em có nghe đĩa Nhân quả công bằng do thầy Thích Chân Quang giảng em xin được nói nôm na theo ý của em và có một số thắc mắc của em mong anh Từ Khánh chỉ giáo:

1. Lời của thầy: Sau khi chết, để được đầu thai sang kiếp khác thì phải tìm được đúng cha, đúng mẹ của mình mới đầu thai được.

=> Em thắc mắc: nếu sau 49 ngày không tìm được đúng cha, đúng mẹ để đầu thai thì bị đoạ vào ngạ quỷ và thành ma? Đến bao giờ thì được đầu thai? Trong lúc bị đoạ vào ngạ quỷ thì vẫn được tìm cha tìm mẹ để đầu thai? Hay là phải tu hành, làm nhiều việc thiện thì mới được đầu thai? Đạ vào ngạ quỷ là vẫn còn linh hồn? Khi người thân gọi hồn thì có biết để lên không?

2. Lời của thầy: Người nào khi sống mà có nhiều công đức lợi lạc cho nhân dân, đất nước thì khi chết mà chưa tìm được cha được mẹ để đầu thai thì họ trở thành thần thành thánh, đến khi tìm được cha được mẹ thì mới đầu thai sang kiếp khác.

=> Em thắc mắc: Như vậy là những người này lên trời? Và họ tìm được cha được mẹ thì vẫn tiếp tục được đầu thai? Em cứ tưởng là tiên hết phước thì mới bị đoạ xuống làm người?

3. Trong trường hợp người đã mất bị đạ vào ngạ quỷ thì vẫn còn linh hồn? Khi người thân gọi hồn thì có đúng là người đã mất nhập vào thầy cúng không?

4. Trong trường hợp người mất đã được đầu thai kiếp khác thì không còn linh hồn nữa? Khi người thân gọi hồn thì những con ma khác nhập vào thầy cúng để giả dạng là người đã mất?

5. Nếu câu trả lời số 4 đúng thì tiếp tục câu này: Khi gọi hồn, trong trường hợp nào ta có thể phân biệt được đó có phải là người đã mất hay là ma giả dạng?

....
Có một số ý nữa, em chưa nghĩ ra. Hy vọng là có hồi âm.:D

Quảng Nghiêm
18-05-2009, 13:55
Sau nhiều quá vậy Diệu Thảo:))? Sau khi bạn xem đĩa của Thầy Chân Quang xong vẫn chưa hết thắc mắc à:D? Tôi đợi mọi người trong đây coi có vị cao nhân nào trả lời cho bạn trước sau đó tới lượt mình, vì tôi thích làm người đi sau hơn:D! Về vấn đề này không phải ai cũng lý giải hết được, mình chỉ căn cứ theo lời Phật và các vị Thầy đã dạy, và cũng qua một thời gian tu tập sẽ khiến cho mình hiểu được nhiều hơn một chút thôi...

Có vị cao nhân nào ở trong đây làm ơn lên tiếng dùm cái:D!

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT

Diệu Thảo
18-05-2009, 14:03
Sau nhiều quá vậy Diệu Thảo:))? Sau khi bạn xem đĩa của Thầy Chân Quang xong vẫn chưa hết thắc mắc à:D? Tôi đợi mọi người trong đây coi có vị cao nhân nào trả lời cho bạn trước sau đó tới lượt mình, vì tôi thích làm người đi sau hơn:D! Về vấn đề này không phải ai cũng lý giải hết được, mình chỉ căn cứ theo lời Phật và các vị Thầy đã dạy, và cũng qua một thời gian tu tập sẽ khiến cho mình hiểu được nhiều hơn một chút thôi...

Có vị cao nhân nào ở trong đây làm ơn lên tiếng dùm cái:D!

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT


Mới có mấy câu có 5 câu thôi mà. :D Em xem xong đĩa thì thấy là Nhân quả rất công bằng. Như các cụ có câu "Gieo nhân nào gặt quả ấy". Ý hiểu của em ở đây là "mình làm mình chịu", "con mình làm, con mình chịu", "chồng mình làm chồng mình chịu". Còn câu nói "đời cha ăn mặn, đời con khát nước" ý muốn nói đến cái quả báo của người cha, chứ không phải là vì cha làm như thế mà con phải chịu như thế. Con phải chịu như thế là vì quả báo của người con chứ không phải là do người cha. Có đúng không anh Từ Khánh?:D

Quảng Nghiêm
18-05-2009, 14:31
Như các cụ có câu "Gieo nhân nào gặt quả ấy". Ý hiểu của em ở đây là "mình làm mình chịu", "con mình làm, con mình chịu", "chồng mình làm chồng mình chịu". Còn câu nói "đời cha ăn mặn, đời con khát nước" ý muốn nói đến cái quả báo của người cha, chứ không phải là vì cha làm như thế mà con phải chịu như thế. Con phải chịu như thế là vì quả báo của người con chứ không phải là do người cha. Có đúng không anh Từ Khánh?:D

Những câu hỏi trên kia thì từ từ mình sẽ bàn đến! Còn bây giờ mình cũng nói sơ về vấn đề này nhé:D, Nhân Quả thì công bằng ai làm thì nấy chịu rất đúng, cái này không ai xen vào của ai được! Nhưng mình cũng có thể giúp người đó bằng cách khuyên người đó làm những việc lành, tu hành tinh tấn để hóa giải bớt những nghiệp ác đó. Rồi bản thân ta cũng có thể giúp cho họ giải bớt phần nào ác nghiệp của họ bằng cách ta làm những việc lành, tu hành tinh tấn rồi hồi hướng công đức lành cho họ, thì cũng giúp cho họ hóa giải bớt đi những nghiệp ác của họ.

Có một điều này không biết mọi người có để ý hay không? Đó là sự liên đới về nghiệp quả của một ai đó trong nhà của mình, đại loại khi người thân của ta gặp nghiệp quả gì nặng nề thì lập tức kéo theo cả nhà cùng đau khổ, kéo theo gia cảnh của gia đình đó tan nát hay luôn sống trong sự bất hòa. Chính vì thế nói về nghiệp Quả thì rất rộng ta không thể nói hết và suy xét tận cùng được, về điều này chỉ có Chư Phật và các vị Đại Bồ Tát mới hiểu. Nhưng rõ ràng nghiệp quả của một người này, nhưng nó lại có liên đới đến những người khác là điều mà ta cũng không thể chối cãi gì được!

Còn cái nghiệp quả tiếp theo ( Ta gọi là cộng nghiệp ), cái này còn lạ lùng hơn nữa! Chắc các bạn ai cũng từng nghe qua nhiều cái chết tập thể, như là tai nạn về nước, tai nạn về lửa, tai nạn về giao thông...v.v...Khiến rất nhiều người cùng chết một lượt! Trong Phật giáo ta gọi đó là những cái chết cộng nghiệp, tức là đúng giờ đúng khắc bao nhiêu con người ở các nơi tự nhiên gặp lại nhau đúng nơi đó và cùng nhau trả nghiệp quả! Cho nên nếu ta nói về nghiệp quả thì vô cùng vô tận không thể nói hết và bàn hết được.

Tôi chỉ khuyên mọi người cố gắng tu hành tinh tấn mà sớm giải thoát là hay nhất:D!

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT

Tinh Lac
18-05-2009, 17:00
[quote=botatdao;11530]Chậc, TUKHANH sai một điểm, ngạ quỷ khác với vong linh, ngạ quỷ là một cảnh giới khác, người chết đi tuỳ theo nghiệp của mình sẽ trở thành TTA, nếu ác nghiệp quá nặng và gặp đủ duyên sẽ đầu thai thành ngạ quỷ.

Còn vong linh họ không giống ngạ quỷ, ko phải chịu sự đau khổ như ngạ quỷ nhưng họ có một nỗi niềm đó chính là sự cô đơn, lạnh lẽo và sự khát khao muốn tìm lại chính mình. Và những nỗi niềm đó có thể theo cùng họ kéo dài cho đến ngàn năm hay vạn năm nữa.

Nói như vậy thì vong linh được xếp vào phương nào trong mười phương pháp giới chúng sinh?

Tinh Lac
18-05-2009, 17:12
Mình không nghi ngờ về pháp môn tịnh độ, pháp môn nào cũng thù thắng, nhưng quan trọng là người thực hành pháp môn đó như thế nào, bởi thế nó thù thắng nhưng quan trọng là thù thắng đối với ai.

Mình xin kể bạn một câu chuyện. Có 2 ông nhà sư đi chuẩn tế. Một ông khi đi chuẩn tế thì không bị gì cả, còn một ông thì sau khi đi chuẩn tế thì bị đau đầu, ăn uống rất khó khăn, nguyên lai là ông sư thứ nhất do không có tâm nên khi hộ niệm cho người chết mà chẳng ảnh hưởng đến tâm thức của người chết. Còn nhà sư thứ hai do ông ta có tâm muốn người này được vãng sanh nên trong lúc hộ niệm ông ấy dốc hết tâm lực của mình, nhưng do đạo lực chưa đủ nên không những không giúp người kia vãng sanh mà còn khiến người chết lưu luyến ông ta không muốn đi và cuối cùng là theo ông ta luôn.

Tất cả đều là thực, pháp môn tịnh độ dựa vào Tín, Nguyện, Hạnh. Nhưng Tín Nguyện Hạnh của mỗi người khác nhau, và điều đó chỉ qua thực hành tin tấn mới có thể có được Tín, Nguyện, Hạnh mạnh mẽ.

Mình không muốn tranh luận hơn thua, nhưng thực tế là như vậy và nếu bạn không tin thì cứ tìm hiểu thực tế và nếu bạn khai nhãn rồi bạn sẽ thấy được có những ông sư mà vong linh bám theo cả tá ấy chứ.

Em làm chị sợ, nói như thế chẳng lẽ ông sư 1 tốt hơn ông sư 2? Chẳng lẽ chúng ta nếu chưa tinh tấn thì ko được phép hộ niệm cho ai? Nói như thế thì đợi khi nào mới có thể hộ niệm, sau khi chứng đắc chăng?

Chị thì chỉ thấy khi em thành tâm hộ niệm cho ai thì tâm từ bi của em tăng trưởng, miễn là em giữ giới thì không có thế lực nào làm gì được em cả và em cũng chẳng phải sợ gì cả. Chị thì người trần mắt thịt thôi, cũng đang mò mẫm sửa mình, chỉ gặp người nào có vong theo mà chắc là vong xấu thì khi tiếp chuyện chị mới bị nhức đầu nhưng chị cũng chẳng sợ gì.

Những chứng đắc của em, nếu có, thì cũng không có nghĩa là đúng tuyệt đối vì có thể em đang chứng ở một mức độ nào đó và em đang diễn giải bản chất sự việc theo đúng những gì em hiểu tại mức độ đó. Có thể sau này khi em chứng đắc được cao hơn em sẽ hiểu bản chất của chuyện này khác đi. Điều chị muốn nói ở đây là nếu những gì mình chưa chắc thì không nên nói ra, sẽ làm ảnh hưởng đến nhiều người và biết đâu mình tạo khẩu nghiệp.

Vài lời thế thôi, bị em hù chị phát sốt phát rét rồi.:))

Tinh Lac
18-05-2009, 17:28
@ Diệu Thảo

5. Nếu câu trả lời số 4 đúng thì tiếp tục câu này: Khi gọi hồn, trong trường hợp nào ta có thể phân biệt được đó có phải là người đã mất hay là ma giả dạng? Chẳng có cách nào biết được vì ma quỷ nếu có tu thì nó cũng có tha tâm thông biết hết chuyện nhà mình y như người thân của mình vậy. Nhưng mục đích của nó khi nhập vào người nhà mình để làm gì thì phải suy xét những yêu cầu của nó. Tốt nhất không nên đi gọi hồn. Trường hợp tự nhiên ai đó nhập vào người nhà mình nói tôi là... thì cũng không biết được là thật hay giả nữa. Thôi những câu hỏi của em âu cũng là những câu thắc mắc của tất cả mọi người mà cách duy nhất biết được chính xác là tu đi rồi sẽ thấy, sẽ thấu hiểu.

Quảng Nghiêm
18-05-2009, 18:34
Chị Tịnh Lạc nhà ta đã tiến bộ nhiều rồi đấy các bạn à:D!

Diệu Hòa
20-05-2009, 11:21
Tốt nhất không nên đi gọi hồn.

Tịnh Lạc ơi, giờ mình biết Phật pháp thì mới thấy vậy, chứ mấy năm trước tớ chưa biết đến Phật pháp thì có biết gì đâu, vả lại rơi vào hoàn cảnh nhà mình thì thật khó nói:-/

bachlien
20-05-2009, 12:20
em vẫn chưa hiểu lắm nên sẽ cố gắng chăm chỉ đọc sách, tu tập theo các anh chị cho nó dần dần hiểu ra vậy. Cảm ơn mọi người nhiều

Tịnh Ngộ
20-05-2009, 12:28
Nam Mô A Di Đà Phật

Em xin gửi thêm một tài liệu về Thân Trung Ấm để mọi người tham khảo:

Theo Phật giáo, mỗi chúng sinh đều có ba thân, thân tiền ấm, thân trung ấm và thân hậu ấm. Thân tiền ấm là thân thể vật chất hiện tại. Thân trung ấm và thân sau khi chết, đang ở trong khoảng thời gian tìm kiếm một thân khác tương ứng để nương gả. Thân hậu ấm là thân đời sau, khi đã tái sanh vào một giới khác.

Tại sao trung ấm được gọi là thân? Đúng theo ý nghĩa của chữ thân là " tích tụ" thì sau khi thân bày đã chết và chưa tìm ra chỗ đầu thai, trong giai đoạn này chỉ có thần thức mà thôi, chưa có tinh huyết của cha mẹ hoà hợp. Tuy nhiên trong giai đoạn này có thể tạm gọi là thân, vì nó có đủ sự thấy, nghe, hay, biết... Kinh Phật gọi dạng thân này là " sắc công năng", thân do nơi chủng tử của thần thức hiện hành.

Thân trung ấm còn gọi là thân trung hữu, hương hành, ý hành, thú sanh...Thân trung hữu là thân quả báo ở khoảng giữa đời này và đời sau; nghĩa là sau khi rời thân tìên ấm nhưng chưa thác sanh vào thận hậu ấm, trong khoảng trung gian đó gọi là Trung, do vì quả báo than này vốn có chẳng phải không, mà con người ai cũng phải gánh trả nên gọi là Hữu. Hương hành vì thân này luôn lần theo mùi hương mà đi, ngửi mùi hương để tồn tại, vì vậy đối với người chết khi cúng họ chỉ hưởng mùi hương mà no đủ. Ý hành là do thân này nương gá vào ý để tìm chỗ đầu thai. Thú sanh là thân này ở vào một trong sáu cảnh luân hồi. Thân thể con người vốn do tứ đại hợp thành, do vậy khi chết sắc thân tứ đại phân tán, còn phần tinh thần thì không mất mà tuỳ nghiệp thọ báo. Thần thức của con người sau khi lìa khỏi xác thân sẽ rơi và trong hai trường hợp sau: Đối với người khi sanh tiền tạo các nghịêp nhân cực ác ( như ngũ nghịch, thập ác), hoặc người đã tu rất nhiều công đức lành (tu mười điều thiện), hoặc người có tín sâu, nguyện thiết, một lòng niệm Phật cầu vãn sanh Tây phương: hoặc người có công phu thiền định đã đoạn trừ được kiến tư hoặc những người sau khi chết không phải thọ thân trung ấm. Ngay khi vừa chấm dứt hơi thở, họ sẽ trực chỉ đoạ vào địa ngục A tỳ, hoặc sanh về Tịnh độ. Đối với hạng người bình thường, khi sanh tìên tuy tạo nghiệp nhưng không rơi vào một trong hai nghiệp cực thiện hay cực ác kể trên. Với nghiệp thiện ác lẫn lộn nên thần thức cần một khoảng thời gian để tái sanh vào cảnh giới này, thần thức phải trải qua giai đoạn thọ thận trung ấm.

Cảnh giới thọ dụng của thân trung ấm biểu hiện qua hai phần: sắc thân thọ báo, trung ấm có hai loại hình sắc xinh đẹp và xấu xa. Trung ấm có loại hai tay chân, có loại bốn chân, có loại nhiều chân, hoặc không có chân. Đại dể trung ấm chuẩn bị tái sanh về loại nào thì có hình dáng tương đồng với chúng sanh loài đoa. Thân trung ấm của hàng nhân thiên cõi dục, hình dáng bằng đứa bé năm bảy tuổi. Thâm trung ấm của chúng sanh cõi sắc lớn bằng thân bản hữu và có y phục, vì do có nhiều chủng tử tàm quý. Chúng sanh ở cõi vô sắc không có thân trung ấm, bởi cõi này không có hình sắc. Trung ấm chư Thiên đầu hướng lên, trung ấm người, bàng sanh và quỷ nằm ngang mà bay đi, trung ấm của chúng sanh ở địa ngục đầu chúc xuống.

Những ai có thiên nhãn, nhìn vào ánh sáng phát ra từ mỗi người, họ có thể đoán định được người có thiện hay ác. Trung ấm cũng thế, tuỳ theo nghiệp thiện hoặc ác mà mỗi loài đều có những ánh sáng phát ra khác nhau. Trung ấm của kẻ tạo nghiệp ác ánh ra sắc đen hay xám, trung ấm của kẻ tạo nghiệp thiện ánh ra sắc trắng như điện sáng. Còn về màu sắc, trung ấm của địa ngục sắc đen như than. Trung ấm của bàng sanh sắc xám như khói. Trung ấm của ngạ quỷ sắc đạm như nước. Trung ấm người và Dục giới sắc như vàng ròng. Trung ấm của chư Thiên Sắc giới rất đẹp màu tươi trắng, sáng tỏ như ánh trăng rằm. Trung ấm có rất nhiều thần lực. Mắt của thân trung ấm nhìn suốt xa như thiên nhãn không bị chướng ngại, thấy các trung ấm khác và chỗ mình sẽ thọ sanh. Tai của trung ấm có thể nghe được những âm thanh cực nhỏ. Mũi của trung ấm có thể ngửi được những mùi hương dù xa vạn dặm...Trong giây phút, trung ấm có thể bay vòng quanh giáp núi Tu di, lại có thể xuyên qua tường vách núi non không bị chướng ngại. Chỉ trừ hai chỗ trung ấm không thể vượt qua được: Bào thai mẹ, vì nghiệp lực, một khi trung ấm đã vào rồi thì không thể đi ra được và Kim cang toà của Phật, do thần lực của Phật, trung ấm không thể vượt qua được.

Thọ mạng tối cao của thân trung ấm là bảy ngày, nếu quá thời hạn bảy ngày mà chưa tìm được chỗ thọ sanh, trung ấm sẽ chết đi rồi sống lại. Nhưng trong vòng 49 ngày trung ấm cũng sẽ tìm được chỗ thọ sanh. Trung ấm khi chết, do nghiệp lành hay dữ chuyển biến mà đổi thân trung ấm loài khác. Đại thể trung ấm khi sắp chết, tuỳ theo nghiệp thiện ác mà trong tâm thấy những tướng sai khác, khiến tâm thức mơ màng dường như trong mộng, bấy giờ khởi lên ý niệm muốn chết để sống lại. KHi chết tuỳ theo nghiệp mà có cảm thọ khổ vui, và sau đó tiếp tục sanh làm thân trung ấm khác, để nối tiếp công việc tìm nơi để thác thai.

Về tâm lý thọ báo, trong thời gian này, trung ấm luôn ở trạng thái mờ mịt phiêu diêu vô định. Các ý tưởng buồn vui lẫn lộn làm cho tâm lý trung ấm thay đổi liên tục, vô cùng thống khổ và bất ổn. Tựu trung tâm lý của thân trung ấm có những sự diễn tiếp như sau:
Trước hết là hoài nghi, không biết mình đã chết hay chưa? Thông thường con người sau khi tắc hơi thở, thần thức mới lìa khỏi xác, nếu chưa được giải thoát, đều phải trải qua một giai đoạn tối tăm, mịt mù từ ba đến bốn ngày, sau đó mới có cảm giác minh mẫn trở lại. Trong thời điểm tối tăm, thần thức luôn ở trong trạng thái hoài nghi xen lẫn mơ màng, đắn đo tự hỏi: " Giờ phút này không biết ta đã chết hay chưa?". đây là trạng thái đối chọi giằng co, giữa hai ý niệm tham sống sợ chết của con người mà có. Sau khi qua khỏi giai đoạn tăm tối, mới xác định rõ mính đã chết.

Tếp theo là sự hoảng hốt, khi đi vào một thế giới xa lạ. KHi sống con người đã quen thuộc với cảnh vật xung quanh, nhưng dau khi chết thọ thân trung ấm, con người lại tiếp xúc với một thế giới hoàn toàn xa lạ với cuộc sống thường nhật. Ở đó lại có những cảnh tượng quái dị, những âm thanh chát chúa...khiến thân thẻ bất an, tâm thức hoảng loạn. Do vậy, tâm lý trung ấm luôn trong trạng thái hoảng hốt, lạc lõng nơi cảnh giới mà mình không biết thực hư như thế nào, chính sự hoảng loạn này là yếu tố làm cho trung ấm đoạ lạc vào cảnh giới khổ đau.

Do ái dục chi phối, con người khi chết thường sanh các tâm niệm quyến luyến. Hoặc do cảm thương thân phận mình đã chết, mà sanh tâm đau buồn thương cảm, tài sản mà khó dứt trù tâm thương yêu trói buộc. Hoặc do các tâm nguyện chưa thành đột nhiên cái chết lại đến, khiến bứt rức ngồi đúng không yên, Hoặc do oan ức chưa kịp bày tỏ, khiến lòng bực tức mà không chịu nhắm mắt. tất cả những tâm lý đó đã giày xéo, làm cho trung ấm vốn đã thống khổ, lại chồng chất thêm nhiều nỗi thống khổ khác.

Mặt khác, bấy giờ do nghiệp lực quá khứ chiêu cảm, có những luồng gió nghiệp cực mạnh thổi nát trung ấm, những ánh sáng chớp loè giông tố, khiến cho trung ấm hoảng hốt sầu lo: lại có những âm thanh vô củng chát chúa, khiến trung ấm đinh tai nhức óc cùng với vô số loài ác quỷ hình thù kỳ dị, cầm giáo mác đến đe doạ mạng sống...Tất cả những cảnh tượng rùng rợn ấy, đều do nghiệp lực chiêu cảm, khiến cho thân trung ấm sợ muốn ngất, hoảng hốt không nơi nương tựa. Bấy giờ trung ấm chỉ mong cầu nguyện tạo phước để cứu giúp mà thôi.

Lúc đó lại có những luồng hào quang của chư Phật và ánh sáng của các chúng sanh trong lục đạo phóng đến.Chư Phật với những đại hào quang rực rỡ và mạnh mẽ, như hào quang sắc xanh chói loà, hào quang sắc trắng trong sạch, hào quang sắc vàng trong như ngọc, hào quang sắc đỏ mạnh liệt. Còn ánh sáng lục phàm trong cõi dục thì yếu ớt hơn. Ánh sáng của cõi trời thì trắng, ánh sáng của cõi người thì vàng nhạt, ánh sáng của cõi a tu la thì xanh đậm, ánh sáng của cõi địa ngục thì như khói đen, ánh sáng của cõi ngạ quỷ thì đỏ sẫm, ánh sáng của cõi súc xanh thì xanh nhạt. Trong đó thân trung ấm tuỳ nghiệp duyên với cõi nào thì ánh sáng của cõi ấy sẽ rực rỡ hơn. Vì nghiệp duyên bất thiện của chúng sanh nên phần nhiều các trung ấm chỉ thích ánh sáng của lục phàm hơn...


Cổ thi có câu: " Cổ nhân bất kiến kim thời nguyệt, kim nguyệt hà tằng kiến cố nhân". Người xưa không thấy được vầng trăng ngày nay, người nay cũng không thể thưởng thức được vầng trăng ngày xưa, song vầng trăng đã chứng kiến được bao sự đổi thay của kim cổ. Và nếu gương trăng có được mối suy tư, chắc cũng sẽ tụ hỏi: Không lẽ đời người sanh ra, rồi chỉ biết lo giành giật mưu sinh để rồi chết trong đau khổ, vậy đâu là niềm hạnh phúc chân thật của kiếp người? Ưu tư của vầng trăng cũng là nỗi ưu tư của người có trí tuệ, không chấp nhận thân phận bọt bèo của kiếp người, chỉ sanh ra để đấu tranh sinh tồn và cuối cùng chết trong hoảng hốt...Vì thế hiểu được trạng thái con người khi chết đi về đâu, để thiết lập cho bản thân một cuộc sống có ý nghĩa, có định hướng là điều chúng ta cần phải tranh thủ làm ngay trong những ngày ngắn ngủi trên cõi dương thế này.


Thích Nguyên Liên

Nguồn: http://www.thientam.vn/index.php?nv=News&at=article&sid=27

Nam Mô A Di Đà Phật

Tịnh Ngộ

Tinh Lac
20-05-2009, 12:55
Lúc đó lại có những luồng hào quang của chư Phật và ánh sáng của các chúng sanh trong lục đạo phóng đến.Chư Phật với những đại hào quang rực rỡ và mạnh mẽ, như hào quang sắc xanh chói loà, hào quang sắc trắng trong sạch, hào quang sắc vàng trong như ngọc, hào quang sắc đỏ mạnh liệt. Còn ánh sáng lục phàm trong cõi dục thì yếu ớt hơn. Ánh sáng của cõi trời thì trắng, ánh sáng của cõi người thì vàng nhạt, ánh sáng của cõi a tu la thì xanh đậm, ánh sáng của cõi địa ngục thì như khói đen, ánh sáng của cõi ngạ quỷ thì đỏ sẫm, ánh sáng của cõi súc xanh thì xanh nhạt. Trong đó thân trung ấm tuỳ nghiệp duyên với cõi nào thì ánh sáng của cõi ấy sẽ rực rỡ hơn. Vì nghiệp duyên bất thiện của chúng sanh nên phần nhiều các trung ấm chỉ thích ánh sáng của lục phàm hơn...

Trong vòng 49 ngày các ánh sáng này sẽ lần lượt chiếu hay chiếu đồng loạt cho thân trung ấm lựa chọn? Chị nhớ đã đọc ở đâu đó là lần lượt chiếu nhưng đa phần các thân trung ấm ko dám bước vào ánh sáng chói lòa của cõi Phật, cõi trời... nên bỏ qua cơ hội rồi thì không quay lại được chăng?

Tịnh Ngộ
20-05-2009, 13:02
A Di Đà Phật,

CHÌA KHÓA ở đây chính là sự TU HÀNH đó chị ... :x

Ta cầm chìa khóa của căn nhà nào thì ta sẽ có thể mở cửa và bước vào được căn nhà đó.

Tham lam, bỏn xẻn là chìa khóa để bước vào căn nhà Ngạ Quỷ

Sân giận là chìa khóa để bước vào căn nhà Địa Ngục

Ngu ngốc, si mê là chìa khóa để bước vào căn nhà Súc Sinh

.....

Niệm Phật là chìa khóa để bước vào căn nhà Tây Phương Cực Lạc.

Vậy chúng ta hãy tự lựa chọn CHÌA KHÓA cho chính mình !!! Không ai chọn thay cho ta được !!! Hihi :x

Tịnh Ngộ

Tinh Lac
20-05-2009, 16:17
Sân giận là chìa khóa để bước vào căn nhà Địa Ngục


Hichic bây h ngoài chìa chính chị vẫn có thêm 1 chìa phụ thì biết làm thế nào em ơi :((

Diệu Bích
20-05-2009, 18:18
Sân giận là chìa khóa để bước vào căn nhà Địa Ngục


Hichic bây h ngoài chìa chính chị vẫn có thêm 1 chìa phụ thì biết làm thế nào em ơi :((

Thì chúng ta đang tu để có chìa chính mà chị. Chứ có chìa chính rồi ta đâu còn ngồi đây nữa.:D

Hãy vứt bỏ cái chìa phụ đi chị ơi!!!;)

Tịnh Ngộ
20-05-2009, 18:22
Sân giận là chìa khóa để bước vào căn nhà Địa Ngục


Hichic bây h ngoài chìa chính chị vẫn có thêm 1 chìa phụ thì biết làm thế nào em ơi :((

A Di Đà Phật,

Em nghĩ là người tu hành thời Mạt Pháp này thì hầu hết ai cũng đều có 1 chìa khóa chính và ít nhất 1 chìa khóa phụ. Nên chị đừng lo lắng. Hihi :D

Nếu vứt hết chìa khóa phụ đi được là tốt nhất, còn nếu lỡ ta không vứt được thì điều quan trọng là phải thật chuyên tâm tu hành để rồi đến lúc cần thiết ta có thể đủ tỉnh táo lựa chọn đúng chiếc chìa khóa chính để bước vào cảnh giới tốt. :x

Tịnh Ngộ

Quảng Nghiêm
20-05-2009, 18:27
Chìa khóa chính thì bản thân ta phải luôn giữ Tín, Hạnh, Nguyện! Chìa khóa phụ tức là ban trợ niệm sẽ giúp cho ta ở những giây cuối cùng của cuộc đời. Những điều này chỉ là Tự lực của bản thân ta phải làm, còn cái Tha lực thật lớn của Đức Phật A Di Đà thì không thể nghĩ bàn...

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT

khong0
22-05-2009, 00:52
Pháp môn Tịnh Độ gồm có Tín, Nguyện, Hạnh nhưng khong0 không biết xây dựng niềm tin như thế nào? Xây dựng từ đâu? Lấy cái gì để xây dựng lòng tin? Mọi người giúp cho khong0 nhé!

Nam Mô A Di Đà Phật!

Bảo Nhi
22-05-2009, 09:59
Pháp môn Tịnh Độ gồm có Tín, Nguyện, Hạnh nhưng khong0 không biết xây dựng niềm tin như thế nào? Xây dựng từ đâu? Lấy cái gì để xây dựng lòng tin? Mọi người giúp cho khong0 nhé!

Nam Mô A Di Đà Phật!


Bạn hãy tìm đọc quyển " Những lá thư khuyên người niệm Phật", quyển "Ý nghĩa hoằng pháp và hộ pháp", tìm hiểu thêm các băng đĩa nói về chuyện Vãng sanh của những người tu theo Pháp môn Tịnh độ. Bạn cứ tìm hiểu dần dần, từng bước một chứ đừng nóng vội nhé.

Bản thân tôi được đọc 2 quyển sách trên, rồi dần dần vào mạng tìm tòi tài liệu về Tịnh độ thì được biết đến trang HBS này. Vào đây mới biết các bạn tu thuần theo Tịnh độ thật là quý hoá quá. Ngoài ra bạn có thể vào tham khảo ở trang web Tinhdo.net , trang adidaphat.us , trang thondida.com , ...nhiều nhiều lắm bạn ạ.

Nói chung là cứ đi...rồi sẽ đến.:D

Chúc bạn sẽ có được Tín, Nguyện, Hạnh để kết duyên cùng pháp môn Tịnh độ vô cùng thù thắng này.@};-

khong0
22-05-2009, 14:05
Cám ơn bạn đã chỉ đường nhưng nhiều quá mình không biết bắt đầu từ đâu với lại mình không có thời gian rãnh nhiều. Bạn có thể đơn giản bớt được không? 1 người mới biết về Tịnh Độ như mình đây thì nên làm gì trước tiên? Điều gì thật cần thiết với người bắt đầu tu Tịnh Độ. Mình rất cần những lời khuyên của các bạn đặc biệt những người đã có nhiều thời gian công phu mình rất mong được các bạn chia sẻ nhưng kinh nghiệm và hướng dẫn những bước cụ thể. Chứ nhiều quá mình không kham nổi. Một lần nữa xin cám ơn Bảo Nhi và mọi người đã đọc những dòng chữ của mình. Chúc các thành viên của Hội thân tâm an lạc!

Tịnh Ngộ
22-05-2009, 14:20
Nam Mô A Di Đà Phật,

Kính mời đạo hữu khong0 sang theo dõi thật kỹ Topic Mỗi ngày một lời khuyên - Một kinh nghiệm - Một lời cảnh tỉnh nhé.
Link: http://hoibongsen.com/diendan/showthread.php?t=5721

Chắc chắn là các sư huynh sư tỷ ở đây dần dần sẽ post rất nhiều những kinh nghiệm tu tập, lời khuyên ngắn gọn trong Topic để bạn cũng như những thành viên mới có thể có được những bước nhập môn thật dễ dàng và thuận lợi.

Mình tin rằng mọi người đều ghi nhớ tấm gương của Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni Phật, bản thân Ngài đi con đường dài mới đạt tới quả vị Phật, nhưng Ngài lại chỉ cho chúng sinh đi con đường tắt để thành Phật. Vì thế bạn đừng lo lắng nhé! :x

Tịnh Ngộ chúc bạn tu hành thật tinh tấn. Vì dù sao tất cả cũng phụ thuộc vào bản thân bạn là chính. Mọi người chỉ có thể giúp đỡ bạn về tài liệu, kinh nghiệm tu tập thôi. Còn thành tựu hay không là do chính bản thân khong0 đấy. :x

Nam Mô A Di Đà Phật,

Tịnh Ngộ

Diệu Bích
22-05-2009, 14:56
Em xin post thêm 1 tư liệu tham khảo nữa về Thân Trung Ấm.

Viết bởi Tuệ Dũng http://www.tinhdo.net/images/stories/PhoHien.jpgĐức Phật đã nói rằng trong tất cả những mùa khác nhau để cày cấy, mùa thu là mùa tốt nhất, trong tất cả những loại nhiên liệu để đốt, thì phân bò là tốt nhất, và trong tất cả những loại tỉnh giác khác nhau, sự tỉnh giác về sự vô thường và cái chết thì hữu hiệu nhất. Cái chết là điều nhất định, nhưng khi nào nó giáng xuống thì bất định. Nếu chúng ta thực sự đương đầu với sự việc, chúng ta không biết được cái gì sẽ tới trước – ngày mai hay cái chết. Chúng ta không thể hoàn toàn quả quyết rằng người già sẽ chết trước và người trẻ còn ở lại phía sau. Thái độ thực tế nhất mà ta có thể nuôi dưỡng là hy vọng điều tốt đẹp nhất nhưng chuẩn bị điều tồi tệ nhất. Nếu điều xấu nhất không xảy ra thì mọi sự đều tốt đẹp, nhưng nếu nó xảy ra, nó sẽ không tấn công chúng ta bất ngờ. Điều này cũng ứng dụng cho sự thực hành Pháp: chuẩn bị cho điều tồi tệ nhất vì không ai trong chúng ta biết được khi nào mình chết.
Mỗi ngày chúng ta biết tin về cái chết trong báo chí hay cái chết của một người bạn, của người nào đó mà ta biết mang máng, hay của một người thân. Đôi khi chúng ta cảm thấy mất mát, đôi lúc chúng ta hầu như vui sướng, nhưng một cách nào đó, chúng ta vẫn còn bám chặt vào ý tưởng rằng điều đó sẽ không xảy ra cho ta. Chúng ta nghĩ rằng mình được miễn trừ đối với sự vô thường, và vì thế chúng ta trì hoãn sự tu hành tâm linh (nó có thể chuẩn bị cho chúng ta trước cái chết), và cho rằng ta sẽ còn thời gian trong tương lai. Khi thời điểm không thể tránh khỏi xảy tới, điều duy nhất chúng ta phải mang đi là niềm hối tiếc. Chúng ta cần phải đi vào sự thực hành ngay lập tức để dù cái chết có tới sớm thế nào chăng nữa, chúng ta cũng sẽ sẵn sàng.
Khi cái chết đến, không điều gì có thể ngăn cản nó. Dù bạn có loại thân thể nào, dù bạn có thể trơ trơ đối với bệnh tật thế nào chăng nữa, cái chết sẽ chắc chắn giáng xuống. Nếu chúng ta ngẫm nghĩ về cuộc đời của chư Phật và Bồ Tát trong quá khứ thì nay các Ngài chỉ còn là một ký ức. Các Đạo sư Ấn Độ vĩ đại như ngài Nagarjuna (Long Thọ) và Asanga (Vô Trước) đã có những đóng góp to lớn cho Pháp và làm việc vì lợi lạc của chúng sinh, nhưng giờ đây tất cả những gì còn lại của các ngài chỉ là những cái tên. Đối với những nhà cai trị và các nhà lãnh đạo chính trị thì cũng thế. Tiểu sử của các vị sống động đến nỗi hầu như họ vẫn còn sống. Khi chúng ta đi hành hương Ấn Độ, ta thấy những nơi như Đại Tu viện Nalanda, là nơi các bậc Thầy vĩ đại như Nagarjuna và Asanga đã học tập và dạy dỗ. Ngày nay Nalanda đã đổ nát. Khi nhìn những dấu tích để lại của những nhân vật vĩ đại trong lịch sử, cảnh điêu tàn chỉ cho ta thấy bản chất của sự vô thường. Như những Phật ngôn cổ xưa nói, dù ta chui xuống lòng đất hay đi vào biển cả hoặc vào không gian, chúng ta sẽ không bao giờ tránh được cái chết. Những người trong chính gia đình chúng ta chẳng sớm thì muộn sẽ chia lìa nhau như đám lá bị gió thổi tung. Trong một hai tháng tới, vài người trong chúng ta sẽ chết, và những người khác sẽ chết trong ít năm. Trong tám mươi hay chín mươi năm, tất cả chúng ta, kể cả Đạt Lai Lạt Ma sẽ chết. Khi ấy, chỉ có những sự thấu suốt tâm linh của ta là giúp ích được cho ta.
Không ai sau khi sinh ra mà càng lúc càng cách xa cái chết. Thay vào đó, mỗi ngày chúng ta tới gần cái chết hơn, giống như súc vật đang bị dẫn tới lò sát sinh. Giống như những người chăn bò đánh đập bò của họ và dẫn chúng về chuồng, chúng ta cũng bị hành hạ bởi những nỗi đau khổ của sinh, lão, bệnh, tử, luôn luôn tiến gần tới lúc kết thúc của đời ta. Mọi sự trong vũ trụ này bị lệ thuộc vào lẽ vô thường và cuối cùng sẽ bị tan rã. Như Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ bảy đã nói, những thanh thiếu niên trông rất mạnh mẽ và khỏe khoắn nhưng lại chết trẻ là những vị Thầy thực sự dạy cho chúng ta về sự vô thường. Trong tất cả những người chúng ta biết hay nhìn thấy, sẽ không ai còn sống trong một trăm năm nữa. Cái chết không thể bị đẩy lui bởi các mật chú hay bởi tìm kiếm sự nương tựa ở một nhà lãnh đạo chính trị tài ba.
Trải qua những năm tháng cuộc đời, tôi đã gặp gỡ rất nhiều người. Giờ đây họ chỉ còn là những hình bóng trong ký ức tôi. Ngày nay tôi lại gặp thêm những người mới. Thật giống như xem một vở kịch: sau khi đóng xong vai tuồng của mình, người ta thay đổi xiêm y và lại xuất hiện. Nếu chúng ta tiêu phí cuộc đời ngắn ngủi của mình dưới ảnh hưởng của sự tham luyến và oán ghét, nếu vì lợi ích của những cuộc đời ngắn ngủi đó mà chúng ta tăng trưởng những mê lầm của mình thì mối tai họa chúng ta tạo tác sẽ rất lâu dài, vì nó phá hủy những triển vọng thành tựu hạnh phúc tối hậu của chúng ta.
Nếu đôi lúc chúng ta không thành đạt trong những vấn đề thế tục tầm thường, điều đó không quan trọng lắm, nhưng nếu chúng ta lãng phí cơ may quý báu có được nhờ đời người này, thì bản thân chúng ta sẽ bị trầm luân trong thời gian dài. Tương lai ở trong tay ta – dù chúng ta muốn trải qua sự đau khổ cùng cực do rơi vào những cõi luân hồi phi-nhân, hay ta muốn thành tựu những hình thức cao hơn của sự tái sinh, hoặc ta muốn đạt tới trạng thái giác ngộ. Ngài Shantideva (Tịch Thiên) nói rằng trong đời này chúng ta có cơ hội, trách nhiệm, có khả năng lựa chọn và quyết định những đời tương lai của ta sẽ như thế nào. Chúng ta nên tu hành tâm thức của mình để cuộc đời ta sẽ không bị lãng phí – không lãng phí ngay cả một tháng hay một ngày – và chuẩn bị khi cái chết đến. Nếu chúng ta có thể nuôi dưỡng sự hiểu biết đó thì động lực cho thực hành tâm linh sẽ phát sinh – đó là động lực mạnh mẽ nhất. Geshe Sharawa (1070-1141) nói rằng vị Thầy tốt nhất của ngài là sự thiền định về lẽ vô thường. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy trong giáo huấn đầu tiên của ngài rằng nền tảng của sự đau khổ là vô thường.
Khi phải đối diện với cái chết, các hành giả lỗi lạc nhất sẽ hoan hỉ, các hành giả trung bình sẽ được chuẩn bị tốt đẹp, và ngay cả các hành giả hạ căn nhất sẽ không có gì để hối tiếc. Khi chúng ta đi tới ngày cuối cùng của đời mình, điều tối quan trọng là đừng có ngay cả một day dứt của sự hối tiếc, hoặc điều tiêu cực mà chúng ta kinh nghiệm khi hấp hối có thể ảnh hưởng tới sự tái sinh kế tiếp của ta. Phương cách tốt nhất để làm cho cuộc đời có ý nghĩa là sống theo con đường của lòng bi mẫn.
Nếu bạn nghĩ tưởng về cái chết và sự vô thường, bạn sẽ bắt đầu làm cho cuộc đời bạn có ý nghĩa. Bạn có thể cho rằng vì sớm muộn gì bạn cũng phải chết thì không cần cố gắng nghĩ về cái chết vào lúc này, bởi nó sẽ chỉ khiến bạn ngã lòng và lo lắng. Nhưng sự tỉnh giác về cái chết và lẽ vô thường có thể có những lợi lạc to lớn. Nếu tâm thức chúng ta bị vướng mắc bởi cảm tưởng rằng mình không bị lệ thuộc vào cái chết, thì chúng ta sẽ chẳng bao giờ nghiêm túc trong sự thực hành của mình và chẳng bao giờ tiến bộ trên con đường tâm linh. Sự tin tưởng rằng bạn sẽ không chết là chướng ngại to lớn nhất cho tiến bộ tâm linh của bạn: bạn sẽ không nhớ tới Pháp, bạn sẽ không tuân theo Pháp mặc dù bạn có thể nhớ tới nó, và bạn sẽ không tuân theo Pháp hết lòng dù bạn có thể tuân thủ nó ở một mức độ nào đó. Nếu bạn không thiền định về cái chết thì bạn sẽ chẳng bao giờ thực hành một cách nghiêm cẩn. Chịu bó tay trước sự lười biếng, bạn sẽ thiếu cố gắng và xung lực trong việc thực hành, và bạn sẽ bị sự kiệt sức vây khốn. Bạn sẽ bị trói chặt vào danh vọng, của cải và sự thành đạt. Khi suy nghĩ quá nhiều về cuộc đời này, ta có khuynh hướng làm việc cho những gì mình yêu quý – những thân quyến và bằng hữu của chúng ta – và ta nỗ lực để làm vui lòng họ. Rồi khi có ai làm điều tổn hại cho họ, lập tức chúng ta liệt những người này là kẻ thù của mình. Trong cách này các mê lầm như sự ham muốn và oán ghét tăng tiến như một dòng sông ngập lụt vào mùa hè. Một cách tự nhiên, những lầm lạc này khiến cho chúng ta mê đắm trong mọi thứ hành động tiêu cực mà hậu quả của chúng sẽ là sự tái sinh trong những hình thức thấp của sự sinh tử trong tương lai.
Nhờ sự tích tập công đức nhỏ bé, chúng ta đã có được một đời người quý báu. Bất kỳ công đức nào đang tồn tại cũng sẽ biểu lộ như một vài mức độ thành đạt tương đối trong đời này. Như vậy vốn liếng ít ỏi mà chúng ta có sẽ bị tiêu đi mất, và nếu ta không tích tập công đức nào mới thì giống như ta tiêu hết tiền để dành mà không có tiền mới gửi vào. Nếu chúng ta chỉ làm cạn kiệt sự tích lũy công đức của mình thì sớm muộn gì chúng ta sẽ bị đắm chìm vào một đời sau còn đau khổ ghê gớm hơn nữa.
Người ta nói rằng nếu không có một sự tỉnh giác đúng đắn về cái chết thì chúng ta sẽ chết trong sự áp chế của sợ hãi và hối tiếc. Mối xúc cảm đó có thể đưa chúng ta đi vào các cõi thấp. Nhiều người tránh đề cập tới cái chết. Họ tránh né nghĩ tới điều tồi tệ nhất, vì vậy khi nó thực sự xảy tới họ bị bất ngờ và hoàn toàn không sẵn sàng. Sự thực hành Phật giáo khuyên chúng ta đừng nên không biết tới các bất hạnh và phải hiểu biết và đối mặt với chúng, chuẩn bị cho chúng ngay từ lúc bắt đầu. Nhờ đó, khi chúng ta thực sự kinh nghiệm nỗi đau khổ thì nó không phải là cái gì hoàn toàn không chịu đựng được. Chỉ né tránh một vấn đề sẽ không giúp giải quyết nó mà thực ra có thể làm vấn đề tệ hại hơn.
Một số người nhận xét rằng thực hành Phật giáo dường như nhấn mạnh tới sự đau khổ và tính chất bi quan. Tôi cho rằng điều này thật sai lầm. Thực hành Phật giáo thực sự cố gắng để chúng ta có được một sự an lạc vĩnh cửu – là điều không thể suy lường nổi đối với một tâm trí bình thường – và tiệt trừ những đau khổ một lần cho mãi mãi. Các Phật tử không hài lòng với sự thành đạt chỉ duy trong đời này hay triển vọng của sự thành đạt trong những đời sau, mà thay vào đó, họ tìm kiếm một hạnh phúc tối hậu. Vì đau khổ là một thực tại do đó quan điểm căn bản của Phật giáo cho rằng sẽ không giải quyết được vấn đề nếu ta chỉ tránh né nó qua quýt. Điều nên làm là đối mặt với đau khổ, nhìn vào nó và phân tích, khảo sát nó, xác định các nguyên nhân của nó và tìm ra phương cách tốt nhất để có thể đối phó với nó. Những người né tránh nghĩ tới điều bất hạnh thực ra lại bị nó tấn công, họ không được chuẩn bị và sẽ đau khổ hơn những người bản thân họ đã làm quen với những đau khổ, nguồn gốc của chúng và cách chúng phát khởi. Một hành giả của Pháp nghĩ tưởng mỗi ngày về cái chết, quán chiếu về những nỗi khổ của con người, nỗi khổ của lúc sinh ra, nỗi khổ của sự già đi, nỗi khổ của bệnh tật, và nỗi khổ của sự chết. Mỗi ngày, các hành giả Mật thừa trải nghiệm quá trình sự chết trong sự quán tưởng. Điều ấy giống như trải qua cái chết về mặt tâm thức mỗi ngày một lần. Vì quen thuộc với nó, họ hoàn toàn sẵn sàng khi thực sự gặp gỡ cái chết. Nếu bạn phải đi qua một vùng rất nguy hiểm và ghê sợ, bạn nên tìm hiểu về những sự nguy hiểm và cách xử sự với chúng trước đó. Không tiên liệu về chúng là ngu dại. Dù có thích hay không bạn cũng phải đi tới đó, vì thế tốt nhất là chuẩn bị sẵn sàng để biết cách xử sự khi những khó khăn xuất hiện.
Nếu bạn có một sự tỉnh thức hoàn hảo về sự chết thì bạn sẽ cảm thấy chắc chắn rằng bạn sắp chết một ngày gần đây. Như vậy nếu khám phá ra rằng mình sắp chết trong ngày hôm nay hay ngày mai, nhờ sự thực hành tâm linh, bạn sẽ nỗ lực tự tháo gỡ mình ra khỏi các đối tượng trói buộc bằng cách vất bỏ những thứ sở hữu và coi mọi sự thành công thế tục như không có bất kỳ bản chất hay ý nghĩa nào. Lợi lạc của sự tỉnh thức về cái chết là nó làm cho cuộc đời có ý nghĩa và nhờ cảm thấy hoan hỉ khi giờ chết tới gần, bạn sẽ chết không chút hối tiếc.
Khi bạn quán chiếu về sự chắc chắn của cái chết nói chung và sự bất định của giờ chết, bạn sẽ làm mọi nỗ lực để tự chuẩn bị cho tương lai. Bạn sẽ nhận ra rằng sự thành đạt và những hoạt động của đời này không có bản chất và không quan trọng. Như vậy, sự làm việc cho lợi lạc lâu dài của bản thân bạn và những người khác sẽ có vẻ quan trọng nhiều hơn nữa, và cuộc đời bạn sẽ được dẫn dắt bởi nhận thức đó. Như Đức Milarepa đã nói, bởi chẳng sớm thì muộn bạn phải bỏ lại mọi sự sau lưng, thì tại sao không từ bỏ nó ngay bây giờ? Mặc dù mọi nỗ lực của chúng ta, kể cả việc dùng thuốc men hay việc cử hành những lễ trường thọ, không ai có thể hứa hẹn sẽ sống quá một trăm năm. Có một vài trường hợp ngoại lệ, nhưng sau sáu mươi hay bảy mươi năm nữa, hầu hết những người đọc quyển sách này sẽ không còn sống. Sau một trăm năm, người ta sẽ nghĩ về thời đại chúng ta chỉ như một phần của lịch sử.
Khi cái chết đến, điều duy nhất có thể giúp ích là lòng bi mẫn và sự thấu suốt về bản tánh của thực tại mà người ta đã đạt tới. Về lãnh vực này, khảo sát xem có một đời sống sau khi chết hay không là điều hết sức quan trọng. Những đời quá khứ và tương lai hiện hữu vì những lý lẽ sau đây. Những kiểu suy nghĩ nào đó từ năm ngoái, từ năm trước nữa, và ngay cả từ thời thơ ấu có thể được nhớ lại vào lúc này. Điều này chỉ rõ cho ta thấy là một cái biết đã hiện hữu trước cái biết hiện tại. Khoảnh khắc ý thức đầu tiên trong đời này không được sinh khởi mà không có một nguyên nhân, cũng không được sinh ra từ cái gì thường hằng hay vô tri. Một khoảnh khắc của tâm là cái gì trong sáng và thấu biết. Bởi thế cái có trước nó phải là cái gì đó trong sáng và thấu biết, là khoảnh khắc trước của tâm (tiền niệm). Chỉ có thể tin được rằng khoảnh khắc đầu tiên của tâm trong đời này đến từ không cái gì khác hơn là một đời trước.
Mặc dù thân xác vật lý có thể hành xử như một nguyên nhân thứ yếu của những biến đổi vi tế trong tâm, nhưng nó không thể là nguyên nhân chính yếu. Vật chất không bao giờ chuyển hóa thành tâm thức, và tâm thức không thể chuyển hóa thành vật chất. Vì thế, tâm thức phải đến từ tâm thức. Tâm thức của cuộc đời hiện tại này đến từ tâm thức của đời trước và là nguyên nhân của tâm thức trong đời sau. Khi bạn quán chiếu về sự chết và thường xuyên tỉnh thức về nó, đời bạn sẽ trở nên có ý nghĩa.
Nhận ra những bất lợi to lớn của việc bám chấp có tính cách bản năng của chúng ta vào sự thường hằng, ta phải chống trả lại nó và tỉnh thức miên mật trước cái chết để ta sẽ được thúc đẩy thực hành Pháp nghiêm cẩn hơn nữa. Ngài Tsong-kha-pa (Tống Khách Ba) nói rằng tầm quan trọng của sự tỉnh thức về cái chết không chỉ hạn chế ở giai đoạn bắt đầu. Nó quan trọng suốt mọi giai đoạn của con đường; nó quan trọng ở lúc bắt đầu, ở giai đoạn giữa và cả ở giai đoạn cuối.
Sự tỉnh thức về cái chết mà chúng ta phải nuôi dưỡng không phải là nỗi sợ hãi thông thường, bất lực về việc phải chia ly với những người thân và tài sản của chúng ta. Đúng đắn hơn, chúng ta phải học sợ hãi rằng ta sẽ chết mà chưa chấm dứt được các nguyên nhân của sự tái sinh trong các cõi thấp của luân hồi và sẽ chết mà không tích tập những nguyên nhân và điều kiện cần thiết cho sự tái sinh thuận lợi trong tương lai. Nếu chúng ta chưa hoàn thành được hai mục đích này, thì vào lúc chết, chúng ta sẽ bị áp chế bởi nỗi sợ hãi và ân hận ghê gớm. Nếu chúng ta tiêu phí toàn bộ đời mình để miệt mài trong những hành động xấu xa phát sinh từ sự oán ghét và ham muốn, thì chúng ta gây nên tai họa không chỉ nhất thời mà còn dài lâu. Đó là bởi ta tích lũy và tàng trữ một khối lượng khổng lồ những nguyên nhân và điều kiện (duyên) cho sự đọa lạc của chính chúng ta trong những đời sau. Nỗi sợ hãi về điều đó sẽ kích động chúng ta để biến mỗi ngày trong cuộc đời mình thành cái gì có ý nghĩa. Khi đã có sự thức tỉnh về cái chết, chúng ta sẽ thấy được sự thành công và mọi sự của cuộc đời này thì không quan trọng, và sẽ làm việc cho một tương lai tốt đẹp hơn. Đó là mục đích của sự thiền định về cái chết. Giờ đây, nếu chúng ta sợ hãi cái chết, chúng ta sẽ nỗ lực tìm kiếm một phương pháp chiến thắng nỗi sợ hãi và hối tiếc của mình khi chết. Còn ngay bây giờ, nếu ta cứ tránh né nỗi sợ chết thì khi chết, chúng ta sẽ bị trói chặt bởi nỗi ân hận.
Ngài Tsong-kha-pa nói rằng khi sự tham thiền của chúng ta về lẽ vô thường trở nên hết sức vững chắc và kiên cố thì mọi sự chúng ta gặp gỡ đều sẽ dạy chúng ta về sự vô thường. Ngài nói rằng tiến trình đi đến cái chết bắt đầu ngay từ khi thụ thai, và khi còn sống, cuộc đời chúng ta thường xuyên bị hành hạ bởi bệnh tật và sự già yếu. Khi còn khỏe mạnh và tràn đầy sức sống, chúng ta không nên bị lừa phỉnh khi nghĩ rằng mình sẽ không chết. Chúng ta không nên vui thú trong sự quên lãng khi chúng ta còn khỏe; cách tốt nhất là chuẩn bị cho số phận tương lai của ta. Ví dụ như người đang rơi từ một dốc đá thật cao sẽ không sung sướng gì trước khi họ chạm đất.
Ngay cả khi chúng ta còn sống, có rất ít thời gian cho sự thực hành Pháp. Dù cho chúng ta quả quyết là mình có thể trường thọ, có lẽ một trăm năm, nhưng ta đừng bao giờ nhượng bộ cái cảm tưởng là ta sẽ có thời gian để thực hành Pháp sau này. Chúng ta không nên bị chi phối bởi sự lần lữa, nó là một hình thức của tính lười biếng. Một nửa đời người bị tiêu mất trong việc ngủ, và phần lớn thời gian còn lại chúng ta bị phóng tâm bởi những hoạt động thế gian. Khi ta già đi, sức mạnh thể chất và tinh thần giảm sút, và mặc dù chúng ta có thể mong muốn thực hành, nhưng đã quá muộn bởi chúng ta sẽ không có năng lực để thực hành Pháp. Đúng như một bản Kinh nói, nửa đời người tiêu phí trong giấc ngủ, mất mười năm khi ta còn nhỏ và hai mươi năm khi ta già, và thời gian ở khoảng giữa thì bị dày vò bởi những lo lắng, buồn phiền, đau khổ và thất vọng, vì thế khó có thời gian nào để cho sự thực hành Pháp. Nếu ta sống một cuộc đời sáu mươi năm và suy nghĩ về tất cả thời gian ta trải qua khi còn bé, tất cả thời gian dùng để ngủ, và thời gian khi ta quá già, thì ta sẽ nhận ra rằng chỉ còn khoảng năm năm để ta có thể hiến mình cho sự thực hành nghiêm cẩn Phật Pháp. Nếu chúng ta không dùng một nỗ lực cẩn trọng để thực hành Giáo Pháp, mà cứ sống như ta sống đời thường, thì chắc chắn là ta tiêu phí đời mình trong sự lười nhác không mục đích. Gung-thang Rinpoche nói, có phần giễu cợt: “Tôi mất hai mươi năm không nghĩ gì về việc thực hành Pháp, và sau đó mất hai mươi năm nữa để nghĩ về việc sẽ thực hành sau này, và rồi mất mười năm nghĩ về việc đã bỏ lỡ cơ may thực hành Pháp như thế nào.”
Khi tôi còn là một đứa trẻ, không có gì đáng nói. Vào khoảng mười bốn hay mười lăm tuổi, tôi bắt đầu quan tâm một cách đứng đắn về Pháp. Rồi người Trung Hoa đến, và tôi mất nhiều năm trong mọi thứ rối loạn chính trị. Tôi đi Trung Hoa và viếng Thăm Ấn Độ năm 1956. Sau đó tôi trở về Tây Tạng và lại mất thêm một ít thời gian trong chính sự. Điều tốt nhất tôi có thể nhớ lại là cuộc thi tôi lấy bằng Geshe (học vị hàn lâm cao nhất trong các trường Đại học tu viện Tây Tạng), sau đó tôi phải rời bỏ quê hương mình. Giờ đây, tôi đã sống lưu vong hơn ba mươi năm, và mặc dù có được một ít học tập và thực hành, phần lớn đời tôi đã bị lãng phí một cách lười biếng không lợi lạc gì nhiều. Tuy nhiên tôi không đến nỗi phải hối tiếc rằng mình đã không thực hành. Nếu tôi nghĩ về phương diện thực hành Tantra Du Già Tối thượng thì có những khía cạnh nào đó của con đường tôi không thể thực hành vì những cơ cấu thân thể của tôi bắt đầu suy thoái cùng tuổi tác. Thời gian để thực hành Pháp không đến một cách tự nhiên mà phải được sắp xếp có chủ đích.
Nếu bạn phải khởi hành trên một hành trình lâu dài thì ở một lúc nào đó, cần phải làm những sự chuẩn bị. Như tôi thường thích nói, chúng ta nên dùng năm mươi phần trăm thời gian và năng lực cho những mối quan tâm về đời sau của mình, và khoảng năm mươi phần trăm cho những công việc của đời này.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến cái chết và rất ít nguyên nhân để sống còn. Hơn nữa, những gì chúng ta thường coi là để củng cố đời sống, như thực phẩm và thuốc men, có thể trở thành những nguyên nhân của cái chết. Ngày nay, nhiều bệnh tật được cho là do bởi chế độ ăn uống của chúng ta. Những hóa chất thường giúp tăng trưởng mùa màng và chăn nuôi súc vật đã góp phần làm sức khỏe suy yếu đi và gây nên sự mất quân bình trong thân thể. Thân người quá nhạy cảm, quá tinh tế khiến nếu nó quá mập thì bạn có mọi thứ vấn đề: bạn không thể đi đứng ngay ngắn, bị cao huyết áp, và thể bạn trở thành một gánh nặng. Trái lại, nếu bạn quá gầy ốm, bạn ít mạnh khỏe hay khả năng chịu đựng, nó dẫn tới mọi thứ phiền não khác. Khi bạn còn trẻ, bạn lo lắng không được kể đến trong số những người lớn, và khi quá già thì bạn có cảm tưởng như bị xua đuổi ra khỏi xã hội. Đây là bản chất sự hiện hữu của chúng ta. Nếu mối họa hại là một thứ gì tác động từ bên ngoài, thì bạn có thể bằng cách này hay cách khác né tránh nó; bạn có thể chui xuống lòng đất hay lặn sâu trong đại dương. Nhưng khi hiểm họa đến từ bên trong thì bạn không thể làm gì hết. Trong khi chúng ta còn tự do đối với sự bệnh hoạn và khó khăn, và ta có một thân thể khỏe mạnh, chúng ta phải lợi dụng điều đó và rút ra được cốt tủy của nó. Rút ra được cốt tủy (bản chất) của cuộc sống là nỗ lực để thành tựu một trạng thái hoàn toàn giải thoát khỏi bệnh tật, cái chết, sự suy sụp và nỗi sợ – đó là, một trạng thái của giải thoát và toàn trí.
Người giàu có nhất trong thế giới không thể mang theo một vật sở hữu duy nhất khi chết. Ngài Tsong-kha-pa nói rằng nếu chúng ta phải để lại đằng sau thân xác này, là thứ mà ta rất thân thiết, coi như của riêng mình và là cái từng đồng hành với ta từ lúc sinh ra như người bạn già nua nhất, thì làm gì có chuyện không phải bỏ lại những của cải vật chất. Hầu hết mọi người đều mất quá nhiều năng lực và thời gian chỉ để cố gắng có được một ít thành đạt và hạnh phúc trong đời này. Nhưng vào lúc chết, mọi hoạt động thế tục của ta, như sự chăm sóc những người thân và bằng hữu, và sự đua tranh với những đối thủ, đành phải bỏ lại dang dở. Mặc dù bạn có thể có đủ thực phẩm để dùng trong một trăm năm, lúc chết bạn sẽ phải chịu đói, và mặc dù bạn có thể có quần áo đủ mặc trong một trăm năm, nhưng khi chết bạn sẽ phải trần truồng. Khi cái chết tấn công, không có sự khác biệt giữa cách chết của một vị vua, bỏ lại đằng sau vương quốc của mình, và cách chết của một người ăn mày, bỏ lại cây gậy.
Bạn nên cố gắng tưởng tượng một tình huống trong đó bạn bị bệnh. Hãy tưởng tượng là bạn bị trọng bệnh và toàn thể sức khỏe thể xác đã ra đi; bạn cảm thấy kiệt sức, và ngay cả thuốc men cũng không giúp được gì. Đến lúc hấp hối bác sĩ sẽ nói bằng hai cách: với người bệnh thì ông nói: “Đừng lo lắng, bạn sẽ khá hơn. Không có gì phải lo âu; chỉ cần tĩnh dưỡng.” Với gia đình thì ông nói: “Tình huống rất trầm trọng. Quý vị nên sắp xếp để cử hành những nghi lễ cuối cùng.” Vào thời điểm đó bạn sẽ không có cơ hội nào để hoàn tất công việc dở dang hay để hoàn thiện việc nghiên cứu của bạn. Khi nằm đó, thân thể bạn sẽ quá yếu khiến bạn cử động khó khăn. Rồi hơi nóng của thân từ từ phân tán và bạn cảm thấy thân mình trở nên cứng đơ, như một khúc cây rơi trên giường bạn. Bạn sẽ thực sự bắt đầu nhìn thấy tử thi của chính mình. Những lời sau cùng của bạn nghe thều thào và những người ở xung quanh phải ráng sức mới hiểu bạn nói gì. Thực phẩm cuối cùng bạn ăn không phải là một bữa ăn ngon lành mà là một nắm thuốc mà bạn sẽ không còn sức để nuốt trôi. Bạn sẽ phải rời bỏ những bằng hữu thân thiết nhất, dường như phải mất nhiều kiếp bạn mới gặp lại họ. Cách thở của bạn biến đổi và trở nên ồn hơn. Từ từ nó sẽ trở nên bất thường, hơi thở vào hơi thở ra nhanh hơn, nhanh hơn nữa. Cuối cùng, sẽ có một hơi thở ra rất mạnh sau cùng, và đây sẽ là sự chấm dứt việc hô hấp của bạn. Điều đó đánh dấu sự chết như thường được hiểu như vậy. Sau đó thì tên của bạn, cái tên mà đã một thời đem lại niềm vui cho bằng hữu và gia đình bạn khi họ nghe tới nó, sẽ được thêm vào một từ “cố” ở trước nó.
Điều trọng yếu là vào lúc hấp hối, tâm phải ở trong một trạng thái tốt lành. Nó là cơ may cuối cùng mà chúng ta có, và là một dịp may không nên bị bỏ qua. Mặc dù chúng ta có thể sống một cuộc đời rất xấu xa, nhưng vào lúc hấp hối ta nên làm một nỗ lực vĩ đại để nuôi dưỡng một trạng thái đức hạnh (an bình) trong tâm. Nếu chúng ta có thể phát triển một lòng bi mẫn hết sức mạnh mẽ và tràn đầy năng lực vào lúc chết, thì có hy vọng rằng ở đời sau chúng ta sẽ tái sinh trong một đời sống thuận lợi. Nói chung, sự quen thuộc đóng một vai trò quan trọng trong việc này. Khi bệnh nhân sắp chết thì việc để cho người hấp hối cảm thấy ham muốn hay oán giận là điều bất hạnh. Ít nhất, nên cho người bệnh ngắm nhìn hình ảnh các vị Phật và Bồ Tát khiến họ có thể nhận ra các Ngài, cố gắng phát triển đức tin mạnh mẽ nơi các Ngài, và chết trong một tâm trạng tốt lành. Nếu điều này không thể làm được thì điều tối quan trọng là những người chăm sóc và thân quyến đừng làm người sắp chết bối rối. Vào lúc ấy, một cảm xúc rất mãnh liệt như sự ham muốn hay oán giận có thể đưa người hấp hối tới một trạng thái đau khổ ghê gớm và hoàn toàn có khả năng đi vào một sự tái sinh ở cõi thấp.
Khi cái chết đến gần, những dấu hiệu nào đó điềm chỉ tương lai có thể xuất hiện. Những người có tâm thức tốt lành sẽ thấy là mình đang đi từ chốn tối tăm ra ánh sáng hay đi vào nơi quang đãng. Họ sẽ cảm thấy sung sướng, nhìn thấy những điều đẹp đẽ, và sẽ không cảm thấy bất kỳ nỗi đau khổ sâu sắc nào khi họ chết.
Nếu lúc hấp hối người ta có những cảm xúc hết sức mãnh liệt về sự ham muốn hay oán ghét thì họ sẽ thấy mọi thứ ảo giác và sẽ cảm thấy đau buồn ghê gớm. Một số người thấy như thể họ đang đi vào bóng tối, những người khác cảm thấy mình đang bị thiêu đốt. Tôi từng gặp vài người đang bệnh rất nặng, họ kể lại rằng khi đau nặng, họ thấy mình đang bị thiêu đốt. Đây là một biểu thị cho số phận trong tương lai của họ. Do những dấu hiệu như thế, người hấp hối sẽ cảm thấy hết sức bối rối, và sẽ kêu la, rên rỉ, thấy như thể toàn thân đang bị lôi kéo xuống. Họ sẽ đau khổ sâu sắc lúc hấp hối. Một cách rốt ráo, những sự kiện này phát xuất từ sự bám chấp vào bản ngã. Người hấp hối biết rằng kẻ mà mọi người rất yêu mến đó sắp chết.
Khi những người đã miệt mài phần lớn đời mình trong ác hạnh ấy chết, ta được biết là tiến trình tan hoại hơi ấm của thân thể bắt đầu từ phần thân trên đi xuống trái tim. Đối với những hành giả thiện hạnh thì tiến trình tan biến hơi nóng bắt đầu từ phía dưới, từ bàn chân, và cuối cùng lên tới trái tim. Trong bất kỳ trường hợp nào, tâm thức cũng thực sự khởi hành từ trái tim.
Sau khi chết, người ta đi vào trạng thái trung ấm, bardo. Thân thể trong trạng thái trung ấm có vài đặc điểm riêng biệt: tất cả các giác quan đều đầy đủ, và nó có một hình tướng thể chất giống hệt với hình tướng của hiện thể mà nó sẽ tái sinh. Ví dụ, nếu nó tái sinh làm một con người, nó sẽ có một hình tướng thể chất giống hệt một con người. Nếu nó tái sinh là một súc sinh thì nó sẽ có hình tướng thể chất của súc sinh đặc thù. Thân trung ấm có thị lực mạnh mẽ đến độ có thể nhìn xuyên qua các vật rắn và có khả năng du hành bất kỳ nơi nào mà không bị ngăn ngại. Thân trung ấm chỉ có thể nhìn thấy những thân trung ấm cùng loại. Ví dụ, nếu một thân trung ấm được định là tái sinh làm một con người thì nó chỉ nhìn thấy những thân trung ấm đã được định để tái sinh làm người. Những thân trung ấm của cõi trời đi hướng lên, nhìn hướng lên cao, và các thân trung ấm của cõi người đi thẳng và nhìn thẳng. Các thân trung ấm của những kẻ đã say đắm trong các ác hành và bị tái sinh vào các cõi thấp thì ta được biết là di chuyển hướng xuống dưới.
Thời kỳ ở trạng thái trung ấm này là bảy ngày. Sau một tuần lễ, nếu thân trung ấm gặp được những tình cảnh thích hợp thì nó sẽ tái sinh trong cảnh giới luân hồi tương ứng. Nếu nó không gặp được thì sẽ lại chết một cái chết nhỏ và xuất hiện một lần nữa như một thân trung ấm. Điều này có thể xuất hiện bảy lần, nhưng sau bốn mươi chín ngày thì nó không thể tồn tại như một hiện thể của trạng thái trung ấm nữa và phải tái sinh dù nó có muốn hay không. Khi đến thời điểm để tái sinh, thân trung ấm nhìn những hiện thể cùng loại với nó bay lượn, và nó sẽ phát triển một ước muốn nhập bọn với họ. Những chất sinh nở của các cha mẹ tương lai, tinh dịch và trứng, trông khác biệt với nó. Mặc dù cha mẹ có thể không thực sự ngủ với nhau, thân trung ấm sẽ có ảo giác là họ đang làm việc đó và sẽ cảm thấy dính mắc với họ. Nếu thân trung ấm nào có thể sinh làm một bé gái, nó sẽ cảm thấy ghét bỏ người mẹ và bị cuốn hút bởi sự trói buộc, nó sẽ nỗ lực để ngủ với người cha. Nếu thân trung ấm có thể sinh ra làm một bé trai, nó sẽ thấy ganh ghét người cha mà ràng buộc với người mẹ và cố gắng để ngủ với mẹ. Bị kích động bởi lòng ham muốn như thế, nó đi theo cha mẹ bất kỳ nơi nào. Sau đó, không có phần thân thể nào của cha mẹ xuất hiện ra trước thân trung ấm đó trừ những bộ phận sinh dục, do đó nó cảm thấy thất vọng và giận dữ. Sự giận dữ đó là điều kiện (duyên) cho cái chết của nó từ trạng thái trung ấm, và nó tái sinh trong tử cung. Khi cha mẹ đang giao hợp và đạt tới khoái cảm cực độ, một hay hai giọt tinh dịch đậm đặc và trứng hòa trộn với nhau như kem trên lớp mặt sữa đun sôi. Vào lúc này, tâm thức của thân trung ấm ngừng dứt và đi vào hỗn hợp ấy. Điều đó đánh dấu sự nhập thai. Mặc dù cha mẹ có thể không giao hợp, thân trung ấm có ảo tưởng là họ đang làm việc ấy và sẽ đi tới nơi đó. Điều này hàm ý rằng có những trường hợp, mặc dù cha mẹ có thể không giao hợp, tuy nhiên tâm thức vẫn có thể đi vào những yếu tố vật lý. Điều này giải thích cho việc những đứa trẻ sinh ra từ ống nghiệm ngày nay; khi các tinh chất được tập hợp lại từ cha mẹ, được hòa trộn và giữ gìn trong một ống nghiệm thì tâm thức có thể đi vào hợp chất đó mà không cần sự giao hợp thực sự xảy ra.
Ngài Shantideva nói rằng ngay cả các súc vật cũng hoạt động để cảm nghiệm niềm vui thích và tránh né đau khổ trong đời này. Chúng ta phải hướng sự chú tâm của ta về tương lai; nếu không, ta sẽ không khác gì những thú vật. Sự tỉnh thức về cái chết chính là nền tảng của toàn thể con đường. Trừ phi bạn phát triển sự tỉnh thức này, còn không thì tất cả những thực hành khác sẽ bị chướng ngại. Pháp là người hướng đạo dẫn dắt ta đi qua những địa hạt không được biết tới; Pháp là thực phẩm nuôi dưỡng ta trong cuộc hành trình; Pháp là vị thuyền trưởng sẽ đưa chúng ta tới bến bờ xa lạ của Niết bàn. Vì thế, hãy đem tất cả năng lực của thân, ngữ và tâm bạn vào việc thực hành Pháp. Nói về sự thiền định về cái chết và lẽ vô thường thì rất dễ, nhưng thực hành thật sự thì quả là hết sức khó khăn. Và khi chúng ta thực hành, đôi lúc ta không nhận thấy có sự thay đổi nhiều, đặc biệt nếu ta chỉ so sánh hôm qua và hôm nay. Đó là một mối nguy hiểm dễ làm ta mất hy vọng và trở nên thiếu can đảm. Trong những tình huống như thế, rất lợi lạc khi ta không so sánh từng ngày hay hàng tuần, mà đúng hơn, cố gắng so sánh tâm trạng hiện thời của ta với tâm trạng của năm năm hay mười năm trước; như vậy ta sẽ thấy rằng đã có một vài thay đổi. Chúng ta có thể nhận ra một số chuyển biến trong quan điểm, trong nhận thức, trong thân tâm, trong sự hưởng ứng của chúng ta đối với các thực hành này. Chính nó là một suối nguồn nâng đỡ, động viên to lớn; nó thực sự ban cho ta niềm hy vọng, vì nó chỉ cho ta thấy nếu ta nỗ lực thì sẽ có khả năng để tiến bộ hơn nữa. Trở nên ngã lòng và quyết định trì hoãn thực hành của chúng ta tới một thời điểm thuận lợi hơn thì thực sự rất nguy hiểm.
Trích: CON ĐƯỜNG ĐẾN TỰ DO VÔ THƯỢNG
Đức Đạt Lai Lạt Ma Thứ 14
Dịch Việt: Liên Hoa