Hội Bông Sen

Hội Bông Sen (http://hoibongsen.com/diendan//index.php)
-   Phật học vấn đáp (http://hoibongsen.com/diendan//forumdisplay.php?f=557)
-   -   Vì đâu mà có việc chúng sanh chết rồi, kẻ bị đọa, người được đi lên? (http://hoibongsen.com/diendan//showthread.php?t=13483)

Duy Thức 09-08-2019 13:42

Vì đâu mà có việc chúng sanh chết rồi, kẻ bị đọa, người được đi lên?
 

Có người đến hỏi Đức Thế Tôn vì đâu mà có việc chúng sanh chết rồi, kẻ bị đọa, người được đi lên?
1. Dhammacariyā: hành xử theo chánh pháp
2. Samacariyā: nếp sống hợp đạo
Cả hai đều ám chỉ cho ‘kusalakammapathā’(thập thiện nghiệp đạo). Do 10 pháp này mà chết rồi sanh về cõi lành.
Còn số bị đọa là do ‘adhammacariyā’(hành xử vô đạo) và visamacariyā(hành xử trái với chánh pháp), hai từ này đều ám chỉ cho thập ác (kusalakammapathā).

Thập thiện gồm: Bố thí, trì giới, Chỉ, Quán, thuyết pháp, thính pháp, phục vụ, hồi hướng, cung kính và điều chỉnh tri kiến.

*Bố thí: chia sẻ những gì mà mình có cho người khác. Gồm 2: bố thí để cầu công đức (nghĩ đến mình) và bố thí vì thương người (nghĩ đến người).
Tây có câu hay lắm: “Ta làm thiện không phải vì người nhận là ai mà vì chính mình là người thế nào.” Danh ngôn thường có kiểu nói đặc biệt như vậy. Ví dụ như trong phim, một người chờ bạn đem tiền tới trả, khi thấy thằng bạn “xách cái mặt” tới, người này nói “mày đừng nói với tao là mày không có tiền nghen”. Đó là cách nói trong phim. Hoặc như bà mẹ nói với thằng con: “Con nghĩ lúc này là lúc nào mà con nói như vậy”. Ở mỗi lãnh vực, mỗi thời điểm, mỗi chuyên ngành có những ngôn ngữ khác nhau. Tôi nhớ có đọc trên tờ lịch ngày 20-11 có câu thế này: “Nghề giáo là nghề cao quý cần được nâng đỡ”. Ký tên: HCT. Dĩ nhiên người trong nước thấy câu đó thần thánh nhưng theo tôi câu đó không đủ giọng của một danh ngôn. Trong khi đó có câu như “Đời cha ăn mặn, đời con khát nước”, tôi không nói hai câu trên ý nghĩa giống nhau. Hoặc như bà Térésa có nói thế này: “Nếu ta không làm được việc lớn thì ta cũng có thể làm được việc nhỏ với một trái tim lớn”, hoặc là câu này của tôi: “Nếu ta không có thể làm được chuyện lớn thì ta cũng đừng làm lớn chuyện”.

*Trì giới cũng có hai: Trì giới cho mình, và trì giới cho người.
-Trì giới cho mình, có 2: Trì giới để cầu công đức và trì giới để trang nghiêm nội tâm.
- Trì giới cho người, cũng có 2: Mình thương người nên mình không làm và mình nghĩ đến mình. Mình không làm điều đó vì mình sợ tội, mình không làm điều đó vì mình muốn có phước nhưng mà cũng có trường hợp là họ không làm chuyện đó vì họ thương chúng sanh nên họ không nỡ. Cái đó mới khó. “Ta làm thiện không phải vì người nhận là ai mà bởi vì ta là người nào”.

*Chỉ, Quán: Samathā và Vipassanā.
Có nghĩa là tập trung tư tưởng cũng là tu. Sống chánh niệm trong từng khoảnh khắc một cách linh hoạt, kiểu chánh niệm cũng là tu.

*Cung kính: Từ xưa đến giờ có lúc mình làm con chó, con heo, con người thì lúc nào cũng coi bản thân mình là quan trọng. Nhưng khi mình là con người thì mình khác con thú ở chỗ là phải biết ở dưới nhìn lên, ở trên nhìn xuống. Ở trên nhìn xuống để yêu thương bao dung, ở dưới nhìn lên để tôn kính và học hỏi. Sống mà không biết cúi đầu thì đời đời không ai cúi đầu trước mình hết. Sống không dám mất thì đời đời sẽ không được, kẻ nào dám mất thì mới có được. Mình khiêm tốn không phải vì muốn đời sau sanh ra được người ta cúi đầu, mà chuyện đầu tiên mình khiêm tốn, biết cung kính người khác chỉ vì một lý do mình nghĩ mình chỉ là một đống rác, có là cái gì mà mình không tôn kính người khác. Hơn nữa, mình phải tôn kính người khác bởi vì cứ nghĩ ai trên đời này cũng có cái thiện.
Cái hạnh phúc mà người coi mình là con số 0 nó lớn lắm. Có cô Phật tử bên Houston hỏi tôi tại sao quí thầy gặp nhau mà quí thầy có thể quỳ xuống lạy nhau một cách dễ dàng như vậy. Cổ vốn xuất thân trong một gia đình danh gia vọng tộc, bố cổ là sư huynh của Thống tướng Lê Văn Tỵ (QLVNCH), cổ ngạc nhiên lắm, sao lại lạy người ta mà mặt mày còn tươi rói. Tôi nói “Tại chị chưa có thử nên chị chưa biết. Cái cảm giác mà hạ mình trước người mình quý mến cái cảm giác nó ‘phê’ lắm.” Phúc thay cho kẻ nào tìm được đối tượng trong đời này để mình tôn kính, mà bất hạnh thay cho kẻ nào trên đời này không tìm ra lý do để mà cúi đầu. Đó là hạnh tu rất là xuất sắc.

*Phục vụ: là mình phải động tay động chân để giúp đỡ người khác dù ít dù nhiều. Chứ còn sống mà chỉ biết có mình thì khó lắm.
Tôi nhớ câu chuyện lần đó trong một lớp học, bắt đầu buổi giảng, cô giáo kêu cả lớp đứng lên để mà vinh danh bạn David hôm nay làm một nghĩa cử đẹp là đã dắt một bà cụ qua đường. Nghe cô giáo đề nghị vỗ tay thì các em vỗ tay. Có em ngưỡng mộ, có em lén nhìn bạn David ghen tị. Hôm sau, bắt đầu buổi học thì hơn nửa lớp đứng lên: “Thưa cô, xin cô cũng cho chúng em một tràng pháo tay?” “Vì chuyện gì?” “Hôm nay chúng em cũng vừa đưa một bà cụ qua đường.” Cô giáo hỏi: “Một bà mà đến chục em đưa qua đường là sao?” “Dạ tại vì bả không muốn qua. Tụi em muốn được khen nên xúm nhau đưa bà qua đường dù bà không thích, nhưng cuối cùng tụi em cũng đưa bà qua được!!!”
Phục vụ cũng vậy, cho là một nghệ thuật; giúp đỡ người ta cũng là một nghệ thuật; khen ngợi cũng là một nghệ thuật. Đừhng nghĩ ôm bông dí vào mặt người ta gọi là tặng bông là sai bét. Vợ chồng bồ bịch mà hôn không đúng lúc đã xài không được, tặng hoa không đúng lúc là đã xài không xong nói chi là tha nhân người dưng kẻ lạ. Phục vụ là bỏ ra chút ít thời gian công sức để hỗ trợ nhu cầu công việc của người khác, đó cũng là một công đức.

*Thuyết pháp: Chia sẻ cái biết của mình về đạo cho người khác. Trong Tăng Chi, Phật dạy: Này các tỳ kheo, ta cho rằng không cách chi mà có thể dùng phương tiện vật chất mà đền đáp ơn cha nghĩa mẹ. Ta nói rằng dầu cho một người cõng cha cõng mẹ hai bên vai đi suốt trái đất một trăm năm, để cho cha mẹ tha hồ tiểu tiện trên người của mình, thì ta nói rằng một trăm năm khổ nhọc như vậy vẫn chưa đủ để đáp đến hết ơn đó được. Vì sao, vì tấm lòng của cha mẹ đối với con không thể cân đong đo đếm được. Tuy nhiên, này các tỳ kheo, nói rằng một người mà hướng dẫn cha mẹ vào chánh pháp, khiến cho cha mẹ có niềm tin, biết bố thí, biết giới hạnh, thì ta cho rằng cái sự hướng dẫn đó đủ để đáp đền được công ơn trời biển của cha mẹ.
Điều đó cho thấy rằng thuyết pháp quan trọng lắm, đó là chia sẻ nguồn sáng cho người khác. Trên đời có cái gì khổ bằng đui mù hoặc có mắt mà sống trong bóng tối không biết đường đâu mà lần; bỗng nhiên có một khe hở ánh sáng len vào, có một tia đèn pin quét ngang thì sung sướng biết dường nào. Thuyết pháp là hiến tặng cho đời một nguồn sáng, giúp cho người ta có đường lối suy tư và hành động, đó là công đức.

*Thính pháp: không phải ngồi nghe một cách tiêu cực thụ động mà phải biết lắng nghe, không phải như là ao tù nước đọng, nếu nước không ra không vào thì chỉ cần chờ chiếc lá rụng hoặc là thú chết nó lọt xuống dưới là nó thúi cả làng. Một cái ao có nước ra nước vào thì trong lắm, đẹp lắm và sạch sẽ hữu dụng. Não trạng của chúng ta cũng phải thường xuyên được nước ra nước vào như vậy, phải có lắng nghe, phải có học hỏi, phải có chỉnh sửa thì mới khá được.
Nghe pháp cũng là một công đức, là vì càng nghe thì mình càng khá hơn. Trong kinh nói nghe pháp có nhiều mục đích: Nghe để phá nghi, nghe để giải quyết những điểm thắc mắc nào đó, nghe để mình biết thêm điều mình chưa biết, nghe để củng cố điều mình đã biết, nghe để sống lại điều mình vừa được nghe.
Ngài Xá Lợi Phất sẵn sàng ngồi xuống để nghe chú đệ tử sa di 7 tuổi thuyết pháp, không phải ngài nghe để phá nghi, cũng không phải nghe để biết thêm điều chưa biết, cũng không phải nghe để củng cố điều đã biết mà ngài nghe để ngài sống lại điều ngài đang nghe. Khi ngài đang nghe mà vị đó nói Niệm Giác Chi, Cần Giác Chi là ngài hỷ lạc toàn thân. Đến cả ngài Xá Lợi Phất mà ngài còn thích nghe pháp như vậy.
Có lần bị bệnh, Đức Thế Tôn nói với ngài Mục Kiền Liên hay ngài Mahā Cūnda rằng: “Như Lai đang bệnh, Như Lai không có an lạc về thân, hãy đọc cho Như Lai nghe một đoạn Thất Giác Chi đi.” Thế là chư tăng thưa: “Bạch Thế Tôn, đây là Thất Giác Chi đã được Thế Tôn chứng đắc và tuyên thuyết. Thế nào là 7: Niệm Giác Chi, Trạch Giác Chi, Cần Giác Chi, Hỷ Giác Chi, Định Giác Chi, Tịnh Giác Chi và Xả Giác Chi.” Khi Đức Phật nghe chư tăng đọc lại những điều Ngài đã giảng thì Ngài bèn hoan hỷ và hết bệnh. Có thể quí vị không tin, “Phật bị bệnh mà cũng cần tụng kinh nữa sao?” Không phải! Ngài nghe để Ngài sống lại với cái mà Ngài đang nghe. Ngày nay mình không hiểu ý nghĩa của chuyện đó. Mình cứ tưởng quanh năm sống như… con dòi, rồi khi bịnh thì thỉnh tăng ni về tụng cho ‘một chầu’ cầu an, ngáp ngáp thì ‘quất’ luôn một thời cầu siêu, đó là hiểu lầm!
Trong kinh Mi Tiên vấn đáp có ghi, một buổi cầu an (hộ niệm) mà muốn có kết quả thì:
1. Người nghe phải lắng tâm và nhận thức đầy đủ
2. Người tụng phải có chánh niệm biết và hiểu mình tụng gì.
3. Không có sự can thiệp của trọng nghiệp.
Người nghe phải lắng tâm, phải nhận thức đầy đủ chứ còn ngáp ngáp tay bắt cánh chuồn thì nghe nỗi gì. Người tụng phải có chánh niệm biết và hiểu mình đang tụng cái gì. Không có sự can thiệp của trọng nghiệp – nói theo người Việt là ‘bệnh căn’; bệnh do tiền khiên nghiệp chướng gì đó thì bó tay (như ung thư, xơ gan cổ trướng, những bệnh thầy chạy, bác sĩ chê). Bệnh đó thì ngay cả vị Chánh Đẳng Chánh Giác cũng bó tay, vì đó là bệnh nghiệp mà. Còn bệnh do thời tiết, do tai nạn, do cái gì rớt trúng, do sinh hoạt phi thời trúng gió trúng sương … thì may ra.

*Hồi hướng.
Hồi hướng quan trọng lắm, hồi hướng là tấm lòng của người hành thiện đối với vô lượng chúng sanh khác. Ta biết rằng ta có trong tay một món ăn thì ta phải sẵn lòng chia sẻ cho người khác; đó là vật thí, tài thí. Nhưng ta biết rằng ta đang có một công đức lớn và có vô lượng chúng sanh đang hướng về ta để cầu công đức, họ muốn lắm nhưng mà không có điều kiện để làm, họ đang chầu chực để chờ mình nhắc tới họ đó. Khi nghĩ tới họ, mình phát đại bi tâm, bèn hồi hướng đến vô lượng chúng sanh không phân biệt biên giới, thì công đức đó chẳng thể nghĩ bàn. Vì sao? Vì có biết bao nhiêu người trong chúng ta khi sống làm nghiệp này nghiệp nọ, nghiệp nặng thì đi địa ngục bàng sanh súc sanh, còn không thì sanh làm A-tu-la, ngạ quỷ rất là tội nghiệp.
Ngạ quỷ có 2 trường hợp:
-Loại 1 là không thể nhận được phước hồi hướng, dù có hồi hướng cỡ nào đi nữa cũng phải sống cho hết cái tuổi thọ để trả nghiệp.
-Loại 2, paradattupajīvī, là loại ngạ quỷ có thể nhận được đồ cúng hoặc phước hồi hướng.
Khi chết mà bị lọt vô đây thì khát nước lắm. Quí vị có ai từng khát lè lưỡi, đói xanh mặt chưa. Tôi mới bị cách đây hai bữa, khát đến nỗi đi ngang cái dòng nước bên đường mà muốn ụp mặt xuống uống. Đó là biết chỉ mười lăm phút hay nửa tiếng nữa sẽ có nước uống rồi mà còn điên dại như vậy. Trong khi có những kẻ hàng ngàn năm, hàng triệu năm, lang thang khắp đầu đường ghềnh cuối bể, cứ thấy nước là nhào tới, thế là nước khô queo. Khô queo với riêng mình (ngạ quỷ) thôi, còn trong mắt người khác thì dòng nước vẫn cuồn cuộn, lăn tăn bình thường. Khô queo hoặc thành lửa cháy rần rần giống như con suối dầu lửa, còn không nó thành nguyên một dòng suối máu, suối mủ với nước vàng tanh tưởi, dòng nước cống đen ngòm tanh rình, làm sao mà uống được. Vậy mà suốt hàng ngàn năm như vậy. Cho nên chỉ cần nghe ở đâu mà động dao động thớt có mùi nhang khói tụng niệm, hồi hướng là mừng lắm, liền nhào tới. Vậy mà người ta đâu có biết, người ta chỉ hồi hướng cho thân nhân, cho gia đình của họ mà thôi. Cho nên nhớ tốt nhất là hồi hướng đến vô lượng chúng sanh. Vì 2 lẽ: chúng sanh nào cũng đáng thương và khó mà tìm ra được một chúng sanh nào chưa từng là thân quyến của mình. Tất thảy trong đời này đều nằm trong 2 hạng người sau đây: Người dễ thương (người thiện, người hạnh phúc) và người đáng thương (người ác, người khổ), chứ không có ai để mình ghét hết. Trong vô lượng vũ trụ, thánh hiền, nam nữ, đực, cái, trống, mái đều nằm trong 2 hạng người này. Đây là lý do tại sao chúng ta phải hồi hướng. Hôm nay chúng ta đối với người khác ra sao, thì mai này, đời sau kiếp khác cũng có kẻ hành động như vậy với ta. Hễ ta lăn đùng ra chết là có người đè ra hồi hướng. Có lúc nhận được, có lúc không nhận được nhưng mà có còn hơn không. Nhớ nghen, chứ đừng lúc nào cũng ba tôi, má tôi mà quên vô lượng chúng sanh khác. Có bị khát nước vài giờ đồng mới thấy thương cho mấy con ngạ quỷ.

*Điều chỉnh tri kiến: thường xuyên liên tục lắng nghe học hỏi xem chỗ biết của mình đúng hay sai, tới chưa, đủ sâu chưa, đủ rộng chưa, chính xác chưa.
Phúc thay cho kẻ nào thường xuyên lắng nghe học hỏi, biết nghi ngờ cái biết của mình, luôn luôn có khả năng xét lại. Bất hạnh thay cho kẻ nào biết 3 mớ và bèn cho đó là chân lý vĩnh cửu hằng số bất biến, cho đó là tinh hoa của vũ trụ, cho mình là cái rốn của càn khôn. Trong đời, tôi gặp cả 2 hạng người này.
Đối với một vấn đề giáo lý, ngài Ānanda là vị Sơ quả, dù là Đệ nhất đa văn đi nữa, ngài cũng không cách nào hiểu bằng vị A-la-hán vô danh. Mấy vị A-la-hán vô danh hay là có tiếng đi nữa cũng không thể nào bì được cái biết của ngài Xá Lợi Phất. Cũng vấn đề đó nhưng ngài Xá Lợi Phất làm sao hiểu hơn Đức Phật. Điều này cho thấy rằng mỗi vấn đề giáo lý đều có nhiều tầng lớp nhận thức khác nhau về độ sâu lẫn chiều rộng. Cho nên chúng ta có thuộc lòng Tam Tạng đi nữa chúng ta vẫn phải lắng nghe người khác bởi vì hiểu nào của mình cũng có chỗ cần phải bổ sung, bổ khuyết hết! Chắc chắn một ngàn phần trăm là như vậy. Ví dụ như trước mặt quí vị có hột đậu phộng, quí vị có dám nói với tôi là quí vị hiểu hết mọi điều toàn bộ về hột đậu phộng, không còn gì để bàn nữa hay không? Nếu quí vị là người cẩn trọng thì chắc chắn là quí vị không dám. Nhỏ hơn nữa là sợi tóc, quí vị đừng có nói với tôi rằng sợi tóc nhỏ thì những gì quí vị biết về sợi tóc này đã hoàn toàn đầy đủ, không cần biết thêm nữa. Tôi xin chia buồn cùng những ai có kiểu ăn nói và nhận thức suy tư như vậy. Đừng cho rằng sợi tóc là nhỏ, còn cái biết của ta – cái biết của một tiến sĩ hóa học, một tiến sĩ vật lý, ta đã biết hoàn toàn mọi sự về sợi tóc. Sai bét! Bởi vì có nhiều chuyện trong sợi tóc mà một ngàn năm nữa chúng ta cũng chưa biết hết về đâu quí vị.
Người nào khi sống có hành động tư duy theo Thập thiện này thì khi chết có cơ đi lên. Có ‘cơ’ tức là có hy vọng chứ không chắc lắm vì ‘nợ xấu’ mình nhiều quá. Đồng ý là mình mới deposit trong nhà băng 80 ngàn, nhưng nợ xấu mình nhiều quá. Vừa rồi mới làm răng chưa trả, đổi xe mới chưa trả, nhà này chưa trả xong, bảo hiểm người chưa kể, và có những vùng có bảo hiểm lũ lụt thiên tai nữa, vì vậy có deposit 80 ngàn, 100 ngàn cũng chưa nghĩa lý gì đâu sá gì tám chục hay tám đồng; trong Tăng Chi Đức Phật dạy: “Này các tỳ kheo, ai cho rằng kẻ làm thiện chết rồi chắc chắn sanh thiên, ta nói rằng đó là tà kiến. Ai nói rằng kẻ làm ác chết rồi chắc chắn phải đọa, ta cho rằng đó là tà kiến” là nhằm vào ý này. Vì sao? Mới nghe qua không thấy ghê, nhưng ngẫm lại ghê thiệt, khi mình nói một người làm thiện chắc chắn sanh thiên, như vậy là mình đã quên mất chục triệu tỷ ức kiếp luân hồi về trước rồi. Quí vị tưởng tượng cơ hội làm thiện và cơ hội làm ác cái nào nhiều hơn; bản năng thiện và bản năng ác cái nào mạnh hơn. Bạn ác, thầy xấu nhiều hơn thầy bạn đàng hoàng. Cho nên trong vô số tỷ triệu ức kiếp luân hồi về trước, những nghiệp ác của mình có cả tỷ luôn, còn chuyện tu hành của mình thì lai rai, ầu ơ ví dầu. Nói ra không phải để bà con run, xuống tinh thần, nhưng đó là sự thật.
Còn chuyện con rùa mù, đồng ý trong kinh có nói chuyện con rùa mù trăm năm trồi đầu một lần trên một vùng biển rộng, do một cơ may hãn hữu chọt đầu vào lỗ ván. Đức Phật dạy rằng, việc trùng hợp đó còn dễ hơn việc sanh làm người, nghe lạnh người thiệt. Tôi nhớ có giải thích rồi, mình có chánh pháp, có chánh kiến, có chánh tín, thì mình không đến nỗi là con rùa mù, mà là con rùa sáng mắt, có cả ống dòm nữa. Có điều, cả một đại dương bao la, miếng ván đó nằm ở đâu, ống dòm nào rọi cho thấu. Ống dòm tốt nhất mà tôi biết (loại dân sự) thì tối đa 10km trên mặt biển. Con rùa nhìn mặt biển bao la với bán kính 10km thì thấm tháp gì. Tuy nhiên mình sẽ không phải là con rùa đui, và không phải là một trăm năm trồi lên một lần nếu mỗi ngày mình sống chánh niệm. Số lần chánh niệm trong ngày chính là số lần con rùa ấy trồi đầu lên biển. Kẻ không tu hành thì cả đời nhiều lắm chỉ trồi đầu vài lần. Trí tuệ nhiều thì giúp ta thành con rùa sáng mắt. Không niệm không tuệ là xem như vừa mù mà lâu lâu mới trồi một lần.
Chương kinh chúng ta đang học đây có nói về công đức quy y. Công đức qui y là công đức cực lớn. Trong Tam thiên đại thiên vũ trụ này, chuyện một vị Phật ra đời là cực hiếm, và sau khi ra đời như vậy thời gian trụ thế cũng không bao lâu. Số người biết Phật pháp bằng chánh tín, bằng chánh kiến càng ít. Còn kiểu đi chùa có pháp danh, mặc áo tràng, có chuỗi, trong nhà có lá phái, có giới điệp vẫn chưa gọi là Phật tử. Phật tử phải là người có kiến thức căn bản về giáo lý. Kiến thức căn bản nghĩa là biết 4 Đế là gì, 12 Duyên khởi là gì, 37 phẩm Bồ Đề là gì và đặc biệt phải biết sống Tứ Niệm Xứ. Có kiến thức căn bản như vậy thì tôi mới gọi đó là người Phật tử, còn như thiếu một trong mấy điều vừa kể thì tôi cho đó chỉ là ‘hàng xóm’ của Tam Bảo mà thôi.

-----------

Trích từ bài giảng của Sư Giác Nguyên giảng kinh Tăng Chi Bộ.

Nhị Tường ghi
-------------

Bài viết sao chép từ: https://www.facebook.com/notes/nh%E1...2003442371186/


Múi giờ GMT +8. Hiện tại là 13:12.

Powered by: vBulletin v3.7.4 Full - Copyright ©2000-2019.
Phát triển bởi tất cả các thành viên Hội Bông Sen.