Xem bài viết đơn
Old 02-10-2017, 22:19   #1
Duy Thức
Thành viên
 
Avatar của Duy Thức
 
Tham gia ngày: Mar 2012
Bài gởi: 3.122
Thanks: 803
Thanked 1.713 Times in 795 Posts
Cây Bồ-đề lịch sử và chùa Phật Nha ở Sri Lanka


Cây Bồ-đề lịch sử và chùa Phật Nha ở Sri Lanka


KS. Minh Bình

I. DẪN NHẬP:

Ai cũng thừa nhận cái nôi của Phật giáo Nam truyền ngày nay là đất nước Sri Lanka (Tích Lan). Sự thật này là một niềm đáng tự hào nhất của các dân tộc sống trên đảo quốc bé nhỏ ấy. Khi đến với cái nôi của Phật giáo Nam truyền, người ta sẽ được diện kiến những di tích vô cùng quý giá của Phật giáo Sri Lanka nói riêng và Phật giáo thế giới nói chung. Với niềm quý trọng những di sản vật chất và tinh thần mà Phật giáo Sri Lanka còn gìn giữ, người viết muốn tìm hiểu về một vài di tích lịch sử của nền Phật giáo này. Trong động cơ đó, bài nghiên cứu về “Cây Bồ-đề lịch sử và chùa Phật Nha ở Sri Lanka” đã được ra đời…

Như đề tài của bài nghiên cứu đã nêu trên, thì nó gồm có hai phần. Người viết sẽ dành một chương để thuyết minh về cây Bồ-đề lịch sử ở Sri Lanka, bắt đầu từ cây Bồ-đề đầu tiên của Phật giáo, đến cây Bồ-đề đầu tiên trong truyền thống trồng linh thọ này của những người Phật tử… Và chương thứ hai là trình bày về xá-lợi răng Phật của Sri Lanka và chùa Phật Nha. Ngoài hai chương trên, phần nội dung chính còn có một chương Giới thiệu sơ lược về đảo quốc Sri Lanka và nền Phật giáo đặc sắc của nước này.

Cây Bồ-đề lịch sử và chùa Phật Nha là hai di tích lịch sử rất cổ xưa và rất quý trọng, thiêng liêng của Sri Lanka. Do vậy, chúng đã được bảo tồn rất kỹ lưỡng, cũng như đã được nói đến nhiều. Thế nên đề tài của luận văn này không phải là một đề tài mới mẻ, mang tính cách đột phá gì cả. Nhưng dù sao thì người viết cũng sẽ cố gắng để hoàn thành luận văn của mình sao cho tốt đẹp nhất.

Phương pháp nghiên cứu thích hợp ở đây là tổng hợp từ những tư liệu đã có. Trong điều kiện không có khả năng đi thực tế, vì Sri Lanka quá xa xôi, người viết sẽ cố gắng tổng hợp và trình bày sao cho bài viết được trung thực và sáng tỏ nhất…

Qua bài viết này, người viết đã hơn một lần tự nhìn lại về những di tích lịch sử của nền Phật giáo nước nhà. Biết trân trọng truyền thống của cha ông, nỗ lực gìn giữ những di sản tốt đẹp của tiền nhân, là những bài học rất hay mà chúng ta học được của Phật tử Sri Lanka. Mong rằng sau khi đọc bài viết này, mọi người không những hiểu được thêm về hai di tích lịch sử của Phật giáo Sri Lanka, mà hơn thế nữa, ai ai cũng sẽ có được một tinh thần hoài cổ chân chính…


II. GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC:

1. Đảo quốc Sri Lanka

Sri Lankalà một đảo quốc xinh đẹp và giàu truyền thống Phật giáo. Trước đây, Sri Lanka được gọi là Ceylan, là một hòn đảo nằm gần mũi phía nam của Ấn Độ. Diện tích Sri Lanka khoảng 65.500 km2 với dân số năm 2002 là 17,5 triệu người. Do đó, mật độ dân cư ở Sri Lanka là khoảng 267 người/km2. Ngày nay, thủ đô của Sri Lanka là Colombo.

Có người nói rằng Sri Lanka là xứ sở Phật giáo lâu đời nhất. Điều này xét ra cũng đúng. Bởi vì tuy Phật giáo được hình thành tại Ấn Độ, nhưng nó đã vắng mặt ở đất nước này trong suốt bảy thế kỷ, từ thế kỷ XII đến thế kỷ XIX. Còn tại Sri Lanka, Phật giáo đã tồn tại từ thế kỷ III BC đến nay.

Theo chân tôn giả Mahinda cùng đoàn truyền giáo do vua Asoka (A Dục) lập ra, Phật giáo Theravada đã được truyền đến đảo quốc này từ năm 247 BC, vào triều đại vua Devanampiya Tissa của Sri Lanka. Sau đó, Ni sư Sanghamitta và chư Ni cũng đã sang Sri Lanka phụ tá cho chư Tăng. Họ đã mang một nhánh cây Bồ-đề chiết từ cây Bồ-đề nguyên thủy tại Bodh Gaya đến Sri Lanka. Cây Bồ-đề này đã được trồng tại cố đô Anuradhapura và được gìn giữ đến tận ngày nay. Cả hai ngài Mahinda và Sanghamitta đều là con của vua Asoka. Họ đã cùng với các trưởng lão Tăng, Ni khác truyền bá văn hóa Phật giáo Ấn Độ vào Sri Lanka, giúp đất nước này phát triển nhiều hơn trong mọi mặt (theo pháp sư Tịnh Hải).

Từ năm 1948, Sri Lanka đã dành được độc lập, sau 443 năm bị ba nước Bồ Đào Nha (từ 1505-1658), Hà Lan (từ 1658-1796) và Anh (từ 1796-1948) liên tiếp cai trị. Sở dĩ Sri Lanka bị các nước thực dân phương Tây dòm ngó và xâm chiếm lâu như vậy là do đảo quốc này có một vị trí trọng yếu trên tuyến đường hàng hải từ châu Âu và Tây Á sang miền Nam Á và Đông Á. Đồng thời, cũng do Sri Lanka rất giàu tài nguyên và cũng là một thị trường hấp dẫn để tiêu thụ sản phẩm của các tập đoàn tư bản phương Tây…

Ngày nay, Sri Lanka là nước đứng đầu vùng Nam Á về mức thu nhập bình quân đầu người và về tỷ lệ biết chữ trong dân chúng. Hiện có bốn tôn giáo lớn nhất ở Sri Lanka là Phật giáo, Ấn giáo, Thiên Chúa giáo và Hồi giáo. Cả bốn tôn giáo này đều đang hoạt động mạnh trong tình hình phát triển chung về mọi mặt của Sri Lanka.

2. Cái nôi của Phật giáo Nam truyền

Lịch sử Phật giáo thế giới đã ghi nhận rằng Sri Lanka là cái nôi của Phật giáo Nam truyền. Nhưng điều đó không có nghĩa là ở Sri Lanka chỉ có thuần túy Phật giáo Nam truyền, suốt mấy ngàn năm nay. Tại Sri Lanka cũng đã từng tồn tại trong một thời gian dài hai phái Phật giáo mang tư tưởng của Phật giáo Bắc truyền. Nhóm ngài Mahinda đến Sri Lanka đã lập ra phái Đại Tự theo tên ngôi chùa trung tâm là Mahavihara mà các vị ấy đã ở và hoằng pháp. Đến cuối thế kỷ I BC, xuất hiện thêm phái Vô Úy Sơn, cũng gọi theo tên chùa, còn gọi là Pháp Hỷ bộ. Đến đầu thế kỷ IV, từ Vô Úy Sơn đã tách thêm Hải bộ, còn gọi là phái Nam Sơn hay phái Kỳ Viên Tự. Hai phái Vô Úy Sơn và Nam Sơn đều chịu nhiều ảnh hưởng của Phật giáo Đại thừa Ấn Độ. Đến đầu thế kỷ V, luận sư Buddhaghosa (Phật Âm) người Ấn Độ, đã từ miền Trung Ấn sang Sri Lanka, ở chùa Mahavihara, phiên dịch lại Tam tạng Thánh điển từ tiếng Sinhalese của Sri Lanka sang tiếng Pàli, rồi chú giải toàn bộ Tam tạng đó. Do những đóng góp to lớn trên của ngài Buddhaghosa, phái Đại Tự lại phát triển mạnh ở Sri Lanka và truyền bá sang các nước Myanma, Thailand …[1]

Tuy đã phát triển mạnh mẽ và phong phú ở Sri Lanka, nhưng Phật giáo Sri Lanka cũng đã từng suy yếu trong giai đoạn 443 năm bị nước ngoài cai trị. Tình hình suy yếu đó có khi đã đến độ không còn một Tỳ-kheo nào, phải nhờ Tăng đoàn Thái Lan sang truyền giới vào năm 1755. Đến năm 1802 và năm 1864, lại có hai phái Phật giáo Myanma truyền vào Sri Lanka, từ nhân duyên là các tu sĩ Sri Lanka hai lần sang Myanma thọ giới Tỳ-kheo rồi quay về nước nhà hoằng pháp. Từ đó đến nay, Phật giáo Sri Lanka gồm có ba phái là phái Xiêm La (Siam Syama Nikaya), phái Miến Điện (Amarapura Nikaya) và phái Tộc Môn (Ramanna Nikaya). [2]

Suốt thế kỷ XIX và nửa đầu thế kỷ XX, Sri Lanka chịu sự cai trị của Anh. Trong lần thứ ba bị nạn ngoại xâm phương Tây này, Sri Lanka đã hoàn toàn bị mất tự do từ năm 1815, không như hai lần trước chỉ bị xâm chiếm ở mọi miền duyên hải của quốc đảo. Dưới sự cai trị của thực dân phương Tây, tình hình tôn giáo ở mọi thuộc địa nói chung là chỉ có Thiên Chúa giáo được phép phát triển. Chúng ta hãy theo dõi những tường thuật sau đây của pháp sư Tịnh Hải:

…Phật giáo bị áp bức, ngày càng suy giảm, khiến những tín đồ Phật giáo có chí muốn đứng lên bảo hộ. Từ năm Phật lịch 2404 tới 2414 (1860 đến 1870), có một số Tỳ-khiêu đã dùng những cách thức gián tiếp để chống lại. Họ thành lập nhà in, ấn loát các loại sách bỏ túi để tuyên truyền, nói rõ tình trạng Phật giáo bị áp bức cho nhân dân biết. Họ xây dựng trường học, giúp đỡ con em tín đồ Phật giáo vào học trong các trường học Phật giáo, động viên tín đồ Phật giáo kính yêu và bảo vệ Thánh giáo của mình. Trong số Tỳ-khiêu đó, có một vị kiệt xuất dũng cảm tên là Yết-na-nan-đà (Mahotti Vatte Gunànanda) đã tổ chức cuộc tranh luận công khai giữa Phật giáo và Cơ đốc giáo, nói rõ giáo lý hai tôn giáo đó để cho mọi người hiểu rõ và tự quyết định nên theo tôn giáo nào. Cuộc tranh luận công khai đó, từ năm Phật lịch 2409 đến 2417 (1865-1873) tổng cộng được tổ chức năm lần. Lần cuối cùng, ở Ba-na-đô-la (Paradura) tranh luận với tín đồ Tân giáo Cơ đốc (Protestant), có quan hệ với vấn đề thiện, ác của hai tôn giáo. Lời lẽ của Yết-na-nan-đà hùng hồn bẻ gãy hoàn toàn lý luận của tín đồ Cơ đốc giáo. Sau cuộc tranh luận, Yết-na-nan-đà cho in thành tiếng Anh nội dung cuộc tranh luận đó, và cho gởi đi Âu Mỹ để tuyên truyền. Những cuộc tranh luận đó đã tạo ra sự phấn chấn rất lớn trong lòng người dân Xây Lan. [3]

Bị tác động bởi cuộc tranh luận này, năm 1880, vị đại tá lục quân Mỹ là Henry Steel Olcott và vợ là Helen Blavatsky (người Nga) đã qua Sri Lanka nghiên cứu Phật pháp và giúp đỡ tín đồ Phật giáo Sri Lanka. Để dễ bề hoạt động, họ đã tạo nên một tổ chức là Hội Thông Thiên Học (Budhist Theosophical Society) ở tại thủ đô Colombo của Sri Lanka. Và họ đã liên tục đấu tranh cho những quyền lợi của Phật tử Sri Lanka, cho giáo hội Phật giáo nước này…

Hưởng ứng việc đấu tranh của những Tỳ-kheo tiên phong và vợ chồng Đại tá Olcott, giới tu sĩ và Phật tử Sri Lanka đã tích cực tham gia, cùng xây dựng trường học Phật giáo, ngân hàng Phật giáo, thiết kế cờ Phật giáo, xuất bản tạp chí, viết sách, kiến thiết học viện Phật giáo, thành lập các hội đoàn Phật giáo, xin ngày Vesak là ngày quốc lễ… Chính trong hoàn cảnh này, có một Phật tử là ngài Anagarika Dhammapala cũng đã tham gia vào nhịp sống của thời đại, để rồi sáng lập nên Hội Maha Bodhi, góp phần to lớn cho sự phục hưng Phật giáo Sri Lanka và nhất là phục hưng Phật giáo Ấn Độ…

Như đã nói ở trên, cây Bồ-đề lịch sử và chùa Phật Nha ở Sri Lanka là hai di tích lịch sử rất cổ xưa và rất quý trọng, thiêng liêng của đất nước này. Hai di tích lịch sử trên đã tồn tại trong suốt chiều dài lịch sử Phật giáo Sri Lanka, song hành theo những thịnh suy của đất nước, sống mãi cùng các dân tộc ở Sri Lanka cho đến ngày nay. Nên khi đến chiêm bái những nơi ấy, chúng ta phải luôn nhớ rằng cây Bồ-đề lịch sử và chùa Phật Nha đứng trong quần thể Phật giáo Sri Lanka, mấy ngàn năm nay, mang theo chúng những ý nghĩa tôn giáo và lịch sử nhất định…

III. CÂY BỒ-ĐỀ LỊCH SỬ:

Nói đến cây Bồ-đề lịch sử tại Sri Lanka, chúng ta cũng cần lần lượt tìm hiểu về ít nhất là hai cây Bồ-đề lịch sử khác trước cây này, ở nơi Phật giáo đã được khởi nguyên. Đó là cây Bồ-đề tại Thánh địa Bodh Gaya và cây Bồ-đề Ananda tại tịnh xá Kỳ Viên, Ấn Độ.

1. Cây Bồ-đề tại Bodh Gaya (Bồ-đề Đạo Tràng)

Chúng ta đều biết đức Phật thành đạo dưới cội cây Pippala (thường đọc là Tất-bát-la), một loại cây đa ở Ấn Độ. Vì đức Phật giác ngộ dưới cội cây Pippala nên chúng ta đã đặt tên cho loài cây này là cây Bồ-đề, nghĩa là cây Giác ngộ.

Hình dáng của cây Pippala rất dễ nhận diện nhờ vào những chiếc lá hình quả tim có đuôi lá dài của nó. Loài cây Pippala rất phổ biến. Chúng ta đi khắp nơi trên đất Ấn chỗ nào cũng thấy bóng dáng của nó. Ngày nay, loại cây này không còn lạ gì trong mắt người Phật tử Việt Nam, ai ai cũng quen thuộc với cây Bồ-đề, cây Giác ngộ…

Cội Bồ-đề cách nay hơn 2500 năm che mưa nắng cho đức Thế Tôn không còn nữa. Cây Bồ-đề tại Bodh Gaya ngày nay là cây kế thừa ít nhất là 5 đời được tính từ cây thủy tổ theo tài liệu của tiến sĩ H.W. Schumann và khoảng 7-11 đời theo một số tài liệu nghiên cứu khác. Do đó có nhiều giả thuyết khác nhau về lịch sử cây Bồ-đề, nhưng chúng ta biết chắc chắn một điều là cội cây này vẫn là cháu chắt nhiều đời từ thủy tổ của nó.

Cây Bồ-đề nguyên thủy vẫn còn sống đến thời của vua Asoka và được nhà vua xây rào bảo vệ. Bên cạnh đó, nhà vua cũng đã nhân rộng cây quý này bằng cách chiếc nhánh của nó gửi tặng cho vua Devanampiya Tissa của Sri Lanka, trồng tại cố đô Anuradhapura vào năm 247 trước Tây lịch.

Vì quá sùng kính đức Thế Tôn, vua Asoka chăm sóc cây Bồ-đề này rất cẩn thận. Hàng ngày nhà vua đến thăm cây Bồ-đề với cả lòng ưu ái và kính trọng, xem như một báu vật quốc gia. Do lòng ghen tỵ, quý phi diễm lệ của nhà vua là bà Tisyaraksita đã sai người lén chặt cây Bồ-đề và thiêu hủy nó. Bà tưởng rằng trong cây ấy có một tiên nữ đã làm mê muội nhà vua...

Vua Asoka đã trồng lại cây Bồ-đề từ một nhánh cây được chiết ở Sri Lanka đem về. Lần này nhà vua chăm sóc cây rất cẩn thận. Ông đã cho xây một bức tường thành cao 3m xung quanh để bảo vệ cây.

Việc phá hủy cây Bồ-đề lần hai xảy ra vào đầu thế kỷ VII, do vua Sasanka xứ Ganda (Bengal) ra lệnh. Vua Sasanka theo ngoại đạo nên không thích Phật giáo. Ông đã truyền lệnh đốn cây thiêng này đồng thời đem đốt toàn bộ gốc rễ làm cho tuyệt giống linh thọ Bồ-đề.

Đến cuối thế kỷ VIII, vua Purnaverma của Maghada, người nối dõi cuối cùng của triều đại Maurya (Khổng Tước), đã trồng lại cây Bồ-đề. Vua thành khẩn cầu nguyện và chăm sóc cây Bồ-đề cẩn thận, mong nó được tốt tươi và phát triển nhanh. Ngoài ra, vua còn cho xây bức tường cao hơn 7m để tránh kẻ xấu tàn phá cây Bồ-đề.

Khoảng 400 năm sau, quân đội Hồi giáo đã xâm chiếm Ấn Độ. Những kẻ cuồng tín và cực đoan Hồi giáo đã phá hủy toàn bộ các Thánh tích Phật giáo, trong đó tòa tháp Maha Bodhi và cây Bồ-đề thiêng liêng cũng chịu chung số phận. Mặc dù vậy, sức sống bất diệt của đạo Phật đã được minh chứng qua sự kiện hồi sinh của cây Bồ-đề. Ngay nơi gốc cây đã bị tàn phá, một chồi non đã nhú lên và phát triển nhanh chóng, cành lá sum suê, như báo hiệu một niềm hạnh phúc đã trở về trên quê hương Phật giáo.

Đến năm 1875, cây Bồ-đề đã bị khô chết. Rồi trong một cơn bão sau đó, cây Bồ-đề đã bị cuốn phăng đi, kết thúc một giai đoạn tồn tại và phát triển của cây này. Về sau cũng chính nơi đó chồi non lại tiếp tục nảy nở và phát triển, sự sống vẫn được liên tục kế thừa từ mạch sống của cây Bồ-đề tổ tiên. Cội Bồ-đề này đã lớn lên và phát triển đến ngày nay, đã hơn 130 năm, cách tháp chính khoảng 5m. Mặc dù trải qua nhiều lần sinh diệt, nhưng vị trí ngày hôm nay so với gốc cây ban đầu vẫn không có sự thay đổi chuyển dịch, vẫn định vị như gốc cây nguyên thủy, nơi khoảng 2600 năm về trước, nhà khổ hạnh Sĩ Đạt Ta đã giác ngộ thành Phật.[4]

2. Cây Bồ-đề Ananda

Cây Bồ-đề Ananda là cây Bồ-đề đầu tiên trong truyền thống trồng Bồ-đề ở mỗi chùa của Phật giáo. Do vậy, chúng ta cũng cần biết đôi nét về cây này.

Trong kinh Phật kể rằng, vào một lần đến tịnh xá Jetavana (Kỳ Viên) viếng thăm đức Phật, trưởng giả Anathapindika (Cấp Cô Độc) đã buồn tủi vì không được hầu cận và kỉnh lễ đức Phật. Nhưng lần đó đức Phật đi hoằng pháp hơi lâu, không riêng gì cư sĩ Anathapindika, các thiện nam, tín nữ khác cũng cảm thấy buồn khi vắng mặt đức Đạo sư. Đến khi đức Phật về lại tịnh xá Jetavana, tôn giả Ananda đã thỉnh nguyện lên đức Phật xin một cách nào đó để xoa dịu được những nỗi niềm trên. Đức Phật đã dạy tôn giả Ananda là các Phật tử có thể trồng cây Bồ-đề để xem như là sự hiện diện của đức Phật tại mỗi đạo tràng tịnh xá.

Chúng ta thử nghĩ xem, tại sao đức Phật không bảo phải làm tượng của ngài, mà lại dạy là nên trồng cây Bồ-đề? Truyền thống thờ tượng Phật đã có ngay từ thời đức Phật còn tại thế, mà người đầu tiền làm việc đó là vua Udena (Ưu Điền). Sau khi lên trời Đao Lợi thuyết pháp độ mẫu thân ba tháng, lúc về lại nhân gian, đức Phật đã cho phép tứ chúng đệ tử được thờ tượng của ngài, như vua Udena đã làm trong thời gian ngài đi vắng. Thiết nghĩ, tượng Phật và cây Bồ-đề đều có thể đại diện cho đức Phật, đều có khả năng nhắc nhở hàng Phật tử về một đức Phật lịch sử có pháp hiệu là Sakya Muni (Thích-ca Mâu-ni) tại Ấn Độ ngày xưa. Thế nhưng, trồng cây cũng có điều hay của nó. Việc trồng cây giúp con người trở về với tự nhiên, cũng là góp phần giữ gìn môi trường sinh thái…

Sau đó, tôn giả Moggallana (Mục-kiền-liên) đã đến Bodh Gaya chiết một nhánh Bồ-đề đem về tịnh xá Jetavana. Tôn giả Ananda đã trồng nhánh cây ấy trước hương thất của đức Phật. Mọi người đều hân hoan chăm sóc cây ấy và gọi nó là cây Bồ-đề Ananda. Từ đó, ai vào tịnh xá cũng viếng thăm cây này và việc trồng cây Bồ-đề trở thành một truyền thống đẹp của Phật giáo.

Ngày nay, cây Bồ-đề Ananda tại tịnh xá Jetavana vẫn còn, nhưng không già lắm, có lẽ là một cây mới được trồng lại sau này. Riêng tịnh xá Jetavana chỉ còn lại những nền gạch, do nhà khảo cổ người Anh là Alexander Cunningham khai quật vào những năm 1956-1969.

3. Cây Bồ-đề lịch sử tại Sri Lanka

Cây Bồ-đề lịch sử tại Sri Lanka là cây Bồ-đề do Ni sư Sanghamitta đem từ Bodh Gaya sang Sri Lanka vào năm 247 BC. Điểm đặc biệt nhất của cây Bồ-đề này là đến nay nó vẫn còn sống, tức là đã trên 2250 tuổi. Di tích cây Bồ-đề lịch sử này được gọi là Sri Mahabodhiya [Cây Bồ-đề Vĩ đại Cát tường ?], được tôn thờ như một Thánh tích của Phật giáo Sri Lanka.

Trong một tuần lễ đầu tháng 2 năm 2006, tiến sĩ Bình Anson đã cùng chư Tăng Việt Nam hành hương về xứ Phật Sri Lanka. Sau chuyến đi đó, tiến sĩ đã tường thuật về cây Bồ-đề lịch sử ở Sri Lanka như sau:

- Đến nay, dân chúng Sri Lanka vẫn rất sùng bái cội Bồ-đề này. Họ không cắt nhánh hay tỉa cành, để cây mọc tự nhiên, lại dùng những cột sắt để chống đỡ các cành ra quá dài, giúp chúng không bị gãy. Khi có cành Bồ-đề nào bị gió làm gãy rơi xuống, dân chúng Sri Lanka mang về thờ…

Do được vua Asoka cho con gái mang từ Bodh Gaya sang Sri Lanka, nên cây Bồ-đề này có một lai lịch rất lớn. Nó đã được khẳng định là cây con duy nhất còn lại ngày nay của cây Bồ-đề đã từng che mưa nắng cho Bồ-tát Siddhattha cách đây trên 2600 năm tại Ấn Độ. Điều này thật là hy hữu, trong khi cây Bồ-đề ở Bodh Gaya và cây Bồ-đề Ananda hiện nay chỉ còn lại với tính cách tôn giáo hơn là tính lịch sử.

(còn tiếp)

thay đổi nội dung bởi: Duy Thức, 02-10-2017 lúc 22:21
Duy Thức is offline Ban this user!   Trả Lời Với Trích Dẫn