Trang chủ Ghi Danh Thành Viên Tìm Kiếm Bài Trong Ngày Ðánh Dấu Ðã Ðọc

Trở lại   Hội Bông Sen > PHẬT HỌC TỔNG QUAN > Hình ảnh Phật và Bồ Tát
Xem Thống Kê Mới Thâm Ý Qua Hình Tượng Phật, Bồ Tát

Gởi Ðề Tài Mới  Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
Old 14-12-2010, 11:33   #1
Quảng Hùng
Thành viên
 
Avatar của Quảng Hùng
 
Tham gia ngày: Nov 2009
Bài gởi: 12.691
Thanks: 11.315
Thanked 13.617 Times in 1.376 Posts
Thâm Ý Qua Hình Tượng Phật, Bồ Tát

TỰA
Thờ Phật và Bồ Tát là cốt tỏ lòng nhớ ơn, cung kính và học đòi theo hạnh nguyện của các Ngài. Bởi vì chư Phật đã trải vô số kiếp cần khổ tu hành và đã biết bao nhiêu lần hy sinh thân mạng để mưu cầu sự an vui lợi ích cho chúng sanh. Chư Bồ Tát cũng thực hành theo hạnh nguyện của chư Phật, nhưng chưa được viên mãn. Cho nên, các Ngài đã phát đại nguyện lăn xả vào cuộc đời khổ đau ô trược này để cứu độ chúng sanh. Mỗi vị đều đầy đủ tất cả công hạnh như nhau, song tùy sở nhân tu hành từ vô lượng kiếp của mỗi vị mà có hiển bày ưu liệt khác nhau. Chúng ta họa, tạc, tô tượng các Ngài để thờ, là vì ngưỡng mộ hạnh nguyện cao cả của các Ngài và tỏ lòng tri ân, kính mến tâm vị tha không bờ bến của các Ngài.

Nhưng, gần đây có nhiều Phật tử thờ tượng Phật, Bồ Tát mà không đúng ý nghĩa nói trên. Họ thờ Phật, Bồ Tát với tính cách nhờ sự có mặt của các Ngài ở trong nhà để bọn ma quỷ tinh quái sợ oai không dám đến phá phách. Hoặc họ thờ Phật, Bồ Tát để nhờ sự ban ân cho gia đình hạnh phúc, làm ăn phát đạt. Hoặc họ thờ theo cổ lệ ông bà để lại, mà không biết ý nghĩa gì. Do đó, Phật, Bồ Tát đã mất tư cách bậc Thầy sáng suốt của người dẫn đường chúng sanh, mà trở thành vị Thần linh có đủ uy thế ban phúc giáng họa.

Bởi thấy những sai lầm ấy, tôi không ngại chỗ nghiên cứu chưa thấu đáo, sự hiểu biết còn nông cạn, cũng cố gắng viết thành tập sách này. Mong rằng tập sách nhỏ này đóng góp được một chút trong công cuộc xiển dương chánh pháp. Tập sách này chỉ phác họa sơ qua tiểu sử hoặc tiền thân, hạnh nguyện, biểu tượng và thâm ý của mỗi tượng Phật, Bồ Tát. Trong đây, tôi nhắm vào những vị Phật, Bồ Tát được hàng Phật tử kính thờ nhiều nhất để giải thích, ngoài ra còn nhiều vị nữa, chưa đề cập đến. Chờ tập sách này ra đời, nếu được sự ủng hộ nồng nhiệt của các Phật tử và sự chỉ bảo thêm của các bậc cao minh, chúng tôi sẽ cố gắng viết tập thứ hai bàn đến tượng những vị Bồ Tát có thờ ở Chùa, nhưng ít được các Phật tử biết đến.



* DẪN KHỞI
Bất cứ một tôn giáo nào thì phần nghi lễ, thờ phụng vẫn được coi là phần thiêng liêng quan trọng. Nhờ hình thức ấy gây cho tín đồ thêm vững niềm tin và Thánh hóa tâm hồn họ trong những khi hành lễ. Nhưng, riêng về Phật giáo về mặt thờ phụng, chúng ta thấy mỗi Chùa của mỗi Tông phái đều có lối thờ phụng khác nhau, nhất là giữa Nam tông và Bắc tông.
Nam tông Phật giáo trong Chùa thờ Phật, chỉ thờ duy nhất một đức Phật Thích Ca. Ngoài ra, có thờ các vị La Hán đều là những vị đệ tử Tôn túc của đức Phật Thích Ca. Tượng đức Phật Thích Ca, tạc hình lúc Ngài đang tu khổ hạnh trong khổ hạnh lâm, thân thể gầy ốm chỉ còn da bọc xương; hoặc tạc hình lúc Ngài thành đạo ngồi dưới cội cây Bồ Đề; hoặc khi Ngài nhập Niết bàn thân nằm ngay thẳng nghiêng bên hữu dưới cội cây Ta La song thọ. Những hình tượng ấy đều căn cứ vào lịch sử đức Phật Thích Ca, với hình thức người Ấn Độ rõ ràng.

Bắc tông Phật giáo trong Chùa không những thờ đức Phật Thích Ca, mà còn thờ Phật Di Đà, Phật Di Lặc (là Phật tương lai), Phật Đại Nhật, Phật Dược Sư... Ngoài ra, còn thờ các vị Bồ Tát như: Bồ Tát Quan Thế Âm, Đại Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền, Địa Tạng...; các vị La Hán như: Thập lục La Hán, hay Thập bát La Hán, Ông Tiêu, Ông Hộ, Ông Thiện, Ông Ác... Những hình tượng này đa số có tính cách siêu thực, những vị Phật, Bồ Tát không có trong lịch sử ở thế giới chúng ta.

Sự thờ phụng dị biệt đó, là kết quả của hai quan niệm khác nhau.
Nam tông Phật giáo quan niệm hiện thân đức Phật Thích Ca là một con người, như bao nhiêu con người khác, cũng già, cũng bệnh, cũng chết... Đức Phật chỉ khác con người ở chỗ giác ngộ chân lý, cổi được vòng sanh tử luân hồi, tự tại giải thoát không còn tái sanh đời sau. Ngoài đức Phật Thích Ca Mâu Ni do hoàng tử Sĩ Đạt Ta, người Ấn Độ xuất gia tu hành thành đạo, không còn vị Phật nào khác, ngoại trừ bảy đức Phật tiếp nối ra đời trên thế giới này. Quan niệm ấy là y cứ bốn bộ kinh Nikaya.

Bắc tông Phật giáo quan niệm hiện thân đức Phật Thích Ca Mâu Ni chỉ là sự thị hiện, là một hóa thân. Nếu có già, bệnh, chết..., chẳng qua Ngài thị hiện cho giống người đời để hóa độ họ, kỳ thật Pháp thân Ngài là như như bất động, không sanh không diệt. Bởi thị hiện nên không nơi nào xứ nào mà chẳng có Phật, hiện thân người Ấn Độ chỉ là một giai đoạn trong muôn triệu giai đoạn, một hóa thân trong muôn triệu hóa thân. Cho nên, Bắc tông Phật giáo không thấy đức Phật Thích Ca thật là người Ấn Độ, mà là người của tất cả chúng sanh, tùy người nước nào tưởng nhớ Ngài thì Ngài hóa thân người nước ấy để giáo hóa. Ngoài đức Phật Thích Ca còn có vô số đức Phật ở nhiều cõi khác, hiện thời cũng tùy duyên hóa độ chúng sanh như đức Phật Thích Ca. Chư Phật hỗ tương hóa độ nên hỗ tương giới thiệu công hạnh, thệ nguyện của nhau cho chúng sanh cõi mình biết, tùy sở thích của họ phát nguyện tu hành để được sanh vào cõi Phật nào cũng quý. Đến chư Bồ Tát cũng thế, chẳng phải chỉ riêng ở cõi này, mà ở khắp các cõi trong mười phương, thường tùy tùng chư Phật trợ lực giáo hóa chúng sanh, mỗi vị có mỗi công hạnh, thệ nguyện đặc biệt riêng. Quan niệm này xuất xứ từ trong các bộ kinh Bát Nhã, Lăng Nghiêm, Bảo Tích, Pháp Hoa, Hoa Nghiêm...



Hòa thượng Thích Thanh Từ
__________________
Nếu mà hai gốc bật tăm
Luân hồi ba lẻ nương mà ở đâu.

----------------------------------------

thay đổi nội dung bởi: Quảng Hùng, 14-12-2010 lúc 12:28
Quảng Hùng is offline Ban this user!   Trả Lời Với Trích Dẫn
The Following 5 Users Say Thank You to Quảng Hùng For This Useful Post:
DieuHoa (15-12-2010), Quảng Duyên (14-12-2010), Quảng Ngọc (28-12-2010), Tịnh Lộc (14-12-2010), thanh ha (17-12-2010)
Quảng Hùng
Xem hồ sơ
Tìm bài viết khác của Quảng Hùng
Old 14-12-2010, 15:14   #2
Quảng Hùng
Thành viên
 
Avatar của Quảng Hùng
 
Tham gia ngày: Nov 2009
Bài gởi: 12.691
Thanks: 11.315
Thanked 13.617 Times in 1.376 Posts
Thâm Ý Qua Hình Tượng BỒ TÁT PHỒ HIỀN
--------------------------------------------------------------------

DANH HIỆU
Phổ Hiền là vị hiền rất gần bậc Thánh hay giáo hóa khắp tất cả chỗ. Đức độ khắp tất cả pháp giới; khéo hay điều phục thuận thảo gọi là Phổ Hiền. Điều thiện vi diệu khắp tất cả chỗ gọi là Phổ.

TIỀN THÂN
Thuở xưa, Ngài là con thứ tư vua Vô Tránh Niệm tên là Năng Độ. Do cúng dường đức Phật Bảo Tạng và phát nguyện độ sanh, Ngài được Phật thọ ký sau này tu hạnh Bồ Tát sẽ được tên là Kim Cương Trí Huệ Quang Minh Công Đức và sẽ thành Phật ở thế giới Bất Huyền phương Đông hiệu là Phổ Hiền Như Lai (Kinh Bi Hoa).

HẠNH NGUYỆN
Bồ Tát Phổ Hiền có mười hạnh nguyện lớn:
Lễ kỉnh chư Phật
Khen ngợi Như Lai
Cúng dường khắp cả
Sám hối nghiệp chướng
Tùy hỉ công đức
Thỉnh Phật chuyển pháp luân
Thỉnh Phật thường ở đời
Thường theo học Phật
Hằng tùy thuận chúng sanh
Hồi hướng khắp hết.
(Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Phổ Hiền hạnh nguyện)

Lại, trong hội Lăng Nghiêm, Phật hỏi về căn viên thông, Ngài thuật:
"Con đã từng làm con các vị Pháp Vương nhiều như số cát sông Hằng, chư Phật mười phương dạy đệ tử có căn Bồ Tát đều tu hạnh Phổ Hiền, là do con mà đặt tên. Bạch Thế Tôn! Con dùng tâm nghe và phân biệt những hiểu biết của chúng sanh, nếu ở phương khác ngoài số thế giới như cát sông Hằng, có một chúng sanh trong tâm phát minh hạnh Phổ Hiền, khi ấy con cưỡi voi trắng sáu ngà phân thân trăm ngàn đến khắp các chỗ kia. Dù người kia bị nghiệp chướng sâu nặng chưa thấy được con, con ở trong tối xoa đầu, an ủi ủng hộ, khiến người kia được thành tựu..." (Kinh Lăng Nghiêm, chương Phổ Hiền)



BIỂU TƯỚNG
Căn cứ vào tượng Thích Ca tam tông, Bồ Tát Phổ Hiền hầu bên tả đức Phật Thích Ca, Bồ Tát Văn Thù hầu bên hữu. Bồ Tát Phổ Hiền thờ riêng với hình thức ngư cư sĩ, cưỡi voi trắng sáu ngà, hai tay chắp lại.

THÂM Ý
Ngài tượng trưng cho chân lý, Văn Thù tượng trưng chân trí, lý trí dung thông. Hoặc Ngài tượng trưng cho tam muội, Văn Thù tượng trưng cho Bát nhã. Hoặc Ngài tượng trưng cho hạnh, Văn Thù tượng trưng cho giải, hạnh giải viên dung. Hoặc Ngài tượng trưng cho Từ bi, Văn Thù tượng trưng cho trí tuệ. Đức Phật dùng chân trí thâm đạt chân lý, vì thế biểu thị hai vị Bồ Tát phụ tá hai bên. Hoặc đức Phật Bi, Trí viên mãn, nên hai Ngài thường có mặt bên trái, bên phải đức Phật.

Riêng tượng Bồ Tát Phổ Hiền ngồi trên lưng voi trắng sáu ngà để biểu thị hạnh nguyện rộng lớn. Trong các loài thú, về sức mạnh chuyên chở, con voi là mạnh hơn cả. Nó hay chuyên chở người và vật từ chỗ này đến chỗ khác. Bồ Tát Phổ Hiền cũng thế, dùng đại hạnh hóa độ chúng sanh, đưa họ từ bờ mê đến bến giác. Lại, con voi ấy trắng có sáu ngà, biểu thị Bồ Tát tuy còn lăn lộn trong trần để hóa độ chúng sanh, mà nghiệp chướng đã trong sạch. Sáu ngà là tượng trưng cho lục độ, Chèo thuyền lục độ, Bồ Tát cứu vớt chúng sanh đang chìm đắm trong bể khổ. Mặc dù bể khổ mênh mông, chúng sanh vô lượng, Bồ Tát không nại hà mệt nhọc vẫn say sưa cứu vớt không ngừng. Những chiếc chèo bố thí..., cánh buồm tinh tấn..., mục tiêu Thiền định, tay lái trí tuệ mãi hoạt động luôn luôn tiến tới không bao giờ bị sóng gió khiến phải lui sụt.



Chúng ta thờ Bồ Tát Phổ Hiền là thờ chân lý, hằng ngày kính lễ Ngài, chúng ta phải tự tỉnh ăn năn tránh xa mọi ảo vọng, trở về phối hợp với chân lý. Còn gì đau buồn bằng, hằng ngày sống trong chân lý mà chúng ta bị mờ mịt bởi vô minh, rồi lấy vọng làm chân, lấy giả làm thực, càng ngày càng cách xa chân lý. Chúng ta hãy mở mang trí tuệ, nhìn thẳng vào mặt chân lý để được giác ngộ như chư Phật. Có vậy mới xứng đáng là Điều Ngự Tử (con của đấng Điều Ngự).

Lại, thờ Bồ Tát Phổ Hiền cũng là thờ Đại hạnh vô biên của chư Bồ Tát. Kính lễ Ngài có nghĩa là chúng ta tôn trọng học đòi theo hạnh nguyện rộng lớn của Ngài. Hãy đập tan đi cái vỏ ích kỷ hẹp hòi của chúng ta để hòa mình trong hạnh nguyện mênh mông của Bồ Tát. Còn đeo đẳng cái vỏ ích kỷ này là còn khổ đau, còn chìm đắm, phải gỡ nó bỏ đi, chúng ta sẽ nhẹ nhàng vượt khỏi muôn lớp trùng dương đến nơi bờ giác an vui. Lòng từ vô hạn, hạnh nguyện vô biên của Bồ Tát là những tiếng còi cảnh tỉnh, kêu gọi chúng ta hãy sống dậy trong đồng thể đại bi, trong chân như vĩnh cửu. Bỏ đi cái vỏ nhỏ nhen, tạm bợ, mà con người đang vì nó tạo nghiệp khổ ngập trời.



Hòa thượng Thích Thanh Từ.
__________________
Nếu mà hai gốc bật tăm
Luân hồi ba lẻ nương mà ở đâu.

----------------------------------------
Quảng Hùng is offline Ban this user!   Trả Lời Với Trích Dẫn
The Following 4 Users Say Thank You to Quảng Hùng For This Useful Post:
DieuHoa (15-12-2010), Quảng Ngọc (28-12-2010), Tịnh Lộc (14-12-2010), thanh ha (17-12-2010)
Quảng Hùng
Xem hồ sơ
Tìm bài viết khác của Quảng Hùng
Old 16-12-2010, 10:11   #3
Quảng Hùng
Thành viên
 
Avatar của Quảng Hùng
 
Tham gia ngày: Nov 2009
Bài gởi: 12.691
Thanks: 11.315
Thanked 13.617 Times in 1.376 Posts
Hình ảnh Bồ Tát Phổ Hiền
-----------------------------------------






















-----------------------------------------
Một, nguyền đảnh lễ Chư Phật
Hai, nguyền xưng tán Như Lai
Ba, nguyền rộng khắp cúng dường
Bốn, nguyền sám hối nghiệp chướng
Nam Mô Bồ Tát Phổ Hiền Vương
Năm, nguyền tùy hỷ công đức
Sáu, nguyền thỉnh chuyển pháp luân
Bảy, nguyền thỉnh Phật trụ thế
Tám, nguyền thường tùy Phật học
Nam Mô Bồ Tát Phổ Hiền Vương
Chín, nguyền hằng thuận chúng sanh
Mười, nguyền khắp đều hồi hướng
Mười phương thế giới vô lượng
Chúng sanh Tứ Thánh đồng về
Không còn bờ Giác bến mê
Tất cả, đồng chơn, nhất thể
Không còn lậu, thô, vi, tế
Như như, hằng viễn, như như.
__________________
Nếu mà hai gốc bật tăm
Luân hồi ba lẻ nương mà ở đâu.

----------------------------------------
Quảng Hùng is offline Ban this user!   Trả Lời Với Trích Dẫn
The Following 6 Users Say Thank You to Quảng Hùng For This Useful Post:
Diệu Khai (17-03-2011), DieuHoa (28-12-2010), Quảng Duyên (10-01-2011), Quảng Ngọc (28-12-2010), Tịnh Lộc (13-01-2011), thanh ha (17-12-2010)
Quảng Hùng
Xem hồ sơ
Tìm bài viết khác của Quảng Hùng
Old 20-12-2010, 10:40   #4
Quảng Hùng
Thành viên
 
Avatar của Quảng Hùng
 
Tham gia ngày: Nov 2009
Bài gởi: 12.691
Thanks: 11.315
Thanked 13.617 Times in 1.376 Posts
Thâm Ý Qua Hình Tượng BỒ TÁT VĂN THÙ SƯ LỢI
---------------------------------------------------------------------------------

DANH HIỆU

Văn Thù Sư Lợi cũng gọi là Mạn Thù Thất Lỵ, dịch nghĩa là "Diệu Đức, Diệu Cát Tường". Vì thấy rõ Phật tánh, mọi đức đều tròn đầy, không sự ràng buộc nào chẳng dứt, nên gọi Diệu Đức.

TIỀN THÂN
Thuở xưa, Ngài là con thứ ba vua Vô Tránh Niệm tên là Thái tử Vương Chúng. Do cúng dường đức Phật Bảo Tạng và phát nguyện độ sanh nên được hiệu là Văn Thù Sư Lợi và được thọ ký sau này sẽ thành Phật ở thế giới thanh tịnh Vô Cấu Bảo Chỉ, hiệu là Phật Văn Thù (Kinh Bi Hoa).
Lại, trong kinh Pháp Hoa chép: Thời đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh, Ngài là Bồ Tát Diệu Quang thọ trì kinh Pháp Hoa. Tám người con của Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh đều theo học với Ngài, sau này các vị ấy đều thành Phật, trong số đó có Phật Nhiên Đăng và Di Lặc. (Kinh Pháp Hoa)



HẠNH NGUYỆN
Ngài là vị Bồ Tát hiểu thấu Phật tánh, đầy đủ ba đức: Pháp thân, Bát nhã, Giải thoát; hằng đem ba đức ấy giác ngộ chúng sanh. Ngài là hiện thân của căn bản trí, cho nên trong hàng Bồ Tát Ngài là Thượng thủ. Trong các hội thuyết pháp của đức Phật Thích Ca, Ngài luôn hiện thân trợ hóa.

BIỂU TƯỚNG
Tay mặt Ngài cầm kiếm sắc bén. Tay trái cầm hoa sen xanh. Mình ngồi trên lưng Sư Tử xanh. Có nơi Ngài hiện tướng người xuất gia, vì với tư cách trợ hoá cùng đức Phật Thích Ca nên phải hiện thân người xuất gia như các vị Tỳ kheo. Có chỗ thờ Ngài với hình thức người cư sĩ đội mũ, mặc giáp, cầm kiếm. Như Thiện Tài Đồng Tử tán thán:
"Thân mặc giáp nhẫn nhục,
Tay cầm gươm trí tuệ,
Tự tại hàng quân ma,
Xin thương xót cứu vớt tôi".
(Kinh Hoa Nghiêm tập ba, phẩm pháp giới, Hòa Thượng Trí Tịnh dịch)

THÂM Ý
Ngài Văn Thù tượng trưng căn bản trí. Tay mặt Ngài cầm kiếm là biểu thị trí đức. Dùng trí tuệ sáng suốt phá tan tất cả vô minh hắc ám. Ánh sáng trí tuệ soi đến đâu, hắc ám tan đến đấy. Như dũng sĩ cầm kiếm bén xông pha trong trận mạc, chiếc liếm lia đến đâu thì đầu giặc rơi đến đấy. Sức trí tuệ vô cùng mãnh liệt, như thanh kiếm báu cứng chắc san sảng, dù chạm phải cùng loại kim khí vẫn không bị khờn mẻ, mà có thể chặt đứt tất cả.
Tay trái Ngài cầm hoa sen xanh, biểu thị đoạn đức. Đối với tự thân cũng do sức trí tuệ dứt sạch mọi nhiễm ô tham ái, như hoa sen ở trong bùn mà không nhiễm bùn. Bồ Tát không phải người ẩn nơi non cao rừng thẩm, sống trong cảnh thanh tịnh u nhàn, mà là người sống chung đụng với quần chúng, lăn lộn trong đám bụi trần để cứu độ chúng sanh, nên có lúc ra làm vua, có lúc làm quan, cũng có khi làm kẻ tật nguyền cùng khổ... tuy sống trong dục lạc dẫy đầy, mà Bồ Tát vẫn giữ tâm thanh tịnh không bị ô nhiễm như người đời. Đó là nhờ trí tuệ dứt sạch tham ái, viên thành đoạn đức.

Chiếc giáp Ngài mang trên người gọi là giáp nhẫn nhục. Nhờ nó nên các mũi tên thị phi không xâm phạm vào thân. Nó che chở cho Bồ Tát vẹn toàn tâm Từ bi; bọn giặc sân hận oán thù không thể nào xúc não được hạnh nguyện của Bồ Tát. Bồ Tát không bao giờ rời chiếc giáp nhẫn nhục. Thiếu nó Bồ Tát không thể nào thực hiện được tâm Bồ Đề.
Con Sư tử là biểu thị công năng của trí tuệ. Bởi vì sư tử là chúa sơn lâm, một tiếng rống của nó muôn thú đều nép phục. Bồ Tát do trí tuệ viên mãn hay thuyết pháp phá dẹp tất cả tà tuyết. Một phen chánh pháp vang lên, mọi tà thuyết đều ẩn náu. Như một phen sư tử rống lên thì muôn thú đều kinh tâm tán đởm.



Chúng ta thờ phụng, đảnh lễ Bồ Tát Văn Thù là để hướng về trí tuệ sẵn có của chúng ta. Lâu rồi, chúng ta mãi sống quay cuồng theo vô minh tham ái, trôi lăn trong biển sanh tử luân hồi, chịu chập chồng muôn nỗi khổ đau. Giờ đây, chúng ta hãy tỉnh dậy, quay về với trí tuệ sẵn có của mình, dùng thanh gươm trí tuệ chặt đứt lưới tham ái để vượt ra khỏi bể khổ thâm sâu. Chỉ có trí tuệ mới đủ công năng cứu ta ra khỏi vòng luân hồi nghiệp báo. Sau khi, tự cứu được mình bằng khả năng trí tuệ, chúng ta lại dùng nó tuyên dương chánh pháp hóa độ quần mê. Được vậy, phần tự lợi và lợi tha mới được đầy đủ. Tuy nhiên, người chiến sĩ muốn chiến thắng kẻ thù phiền não, muốn cứu thoát mọi người ra khỏi vòng kềm hảm của chúng thì lúc nào trong người cũng không rời chiếc giáp nhẫn nhục. Được thế, mới chắc chắn thành công. Cũng vậy, chúng ta muốn tự giác giác tha thì hạnh nhẫn nhục không lúc nào dám xao lảng. Có thực hành được như vậy, mới xứng đáng đảnh lễ đức Văn Thù tay cầm kiếm, mình mặc giáp; ngồi trên lưng Sư tử.



Hòa Thượng Thích Thanh Từ
__________________
Nếu mà hai gốc bật tăm
Luân hồi ba lẻ nương mà ở đâu.

----------------------------------------
Quảng Hùng is offline Ban this user!   Trả Lời Với Trích Dẫn
The Following 3 Users Say Thank You to Quảng Hùng For This Useful Post:
DieuHoa (28-12-2010), Quảng Ngọc (20-12-2010), Tịnh Lộc (13-01-2011)
Quảng Hùng
Xem hồ sơ
Tìm bài viết khác của Quảng Hùng
Old 28-12-2010, 14:41   #5
Quảng Hùng
Thành viên
 
Avatar của Quảng Hùng
 
Tham gia ngày: Nov 2009
Bài gởi: 12.691
Thanks: 11.315
Thanked 13.617 Times in 1.376 Posts
Thâm ý qua hình tượng BỒ TÁT ĐẠI THẾ CHÍ
-----------------------------------------------------------------------

DANH HIỆU
Theo kinh Quán Vô Lượng Thọ Đại Thế Chí có nghĩa là dùng ánh sáng trí tuệ soi khắp hết thảy, khiến chúng sanh trong ba đường ác được giải thoát và được năng lực vô thượng.

TIỀN THÂN
Thuở xa xưa ở thế giới Vô Lượng Đức Tụ An Lạc thị hiện có đức Phật hiệu Kim Quang Sư Tử Du Hý ra đời hóa độ chúng sanh.
Trong nước có ông vua hiệu Oai Đức, lấy chánh pháp trị dân nên cũng gọi là Pháp vương. Trong nước ấy không có người nữ, toàn là do hóa sanh. Vua kính thờ đức Phật Kim Quang Sư Tử Du Hý không biết mỏi nhàm. Một hôm, vua tọa Thiền Tam muội, khi xuất định thấy hai hoa sen mọc bên tả hữu, trong mỗi hoa sen có mỗi đồng tử, rồi cùng nhà vua đến Phật nghe pháp.
Vua Oai Đức đó là tiền thân Phật Thích Ca, hai vị đồng tử là Bồ Tát Quán Thế Âm và Đại Thế Chí. (Quán Thế Âm Bồ Tát Thọ Ký kinh)
Lại một thuở khác, Ngài là con trai thứ của vua Vô Tránh Niệm tên Ni Ma. Ngài được thân thừa cúng dường đức Phật Bảo Tạng và phát nguyện độ sanh, được Phật thọ ký: sau này làm Bồ Tát hiệu là Đắc Đại Thế (Đại Thế Chí), phụ tá bên cạnh đức Phật A Di Đà ở cõi Cực lạc. Và, sau nữa Ngài sẽ thành Phật hiệu là "Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương", ở thế giới Đại Thế. (Kinh Bi Hoa, quyển ba, phẩm Chư Bồ Tát Bổn Thọ Ký)



HẠNH NGUYỆN
Ngài dùng pháp môn niệm Phật Tam muội để tự tu và hóa độ chúng sanh. Trong hội Lăng Nghiêm, đức Phật Thích Ca hỏi chỗ sở tu sở đắc của các vị La Hán và Bồ Tát, Ngài tự thuật: "Thời đức Phật Siêu Nhật Nguyệt Quang dạy con niệm Phật Tam Muội... Nhơn địa xưa của con dùng tâm niệm Phật nhập vô sanh nhẫn. Nay ở thế giới này, con tiếp độ người niệm Phật về Tịnh độ...". Đức Quan Thế Âm dùng lòng Từ bi lắng nghe tiếng đau khổ đến cứu độ chúng sanh, đức Đại Thế Chí dùng ánh sáng trí tuệ soi đường cho chúng sanh được giải thoát.

BIỂU TƯỚNG
Ngài đứng bên hữu đức Phật A Di Đà, tướng người cư sĩ cổ đeo chuỗi anh lạc, tay cầm hoa sen xanh. Đây là lối thờ Di Đà tam tông: Đức Phật Di Đà ở giữa, bên tả Bồ Tát Quán Thế Âm, bên hữu Bồ Tát Đại Thế Chí.

MẬT Ý
Bồ Tát hình người cư sĩ để nói lên hạnh nguyện độ sanh của Ngài luôn luôn gần gũi quần chúng. Bởi vì muốn cảm thông nhau thì trước phải cùng hình thức như nhau. Bồ Tát là bạn lành của chúng sanh, cho nên mang hình thức người cư sĩ để dễ lăn lộn trong nhân gian, mà hóa độ họ.
Hoa sen xanh tượng trưng thanh tịnh, tức là đoạn đức. Dùng trí tuệ dứt sạch tất cả phiền não nhiễm ô, cứu vớt chúng sanh lên khỏi vũng bùn ác trược.
Muốn cứu vớt chúng sanh về tịnh độ, trước phải dạy họ dứt sạch phiền não uế ô. Vì thế, danh hiệu Ngài đã nói lên ý nghĩa vận dụng ánh sáng trí tuệ chiếu soi cho chúng sanh thấy rõ những uế trược nơi mình, đồng thời giúp cho họ có sức mạnh đoạn trừ những uế trược ấy, nhiên hậu đưa họ về Tịnh Độ.

Mỗi đức Phật đều đầy đủ hai đức tánh quan trọng là Từ bi và trí tuệ. Thiếu một trong hai đức tánh này, không bao giờ thành Phật. Cho nên, thờ tượng Tam tôn để biểu thị ý nghĩa này. Đức Phật Thích Ca có hai vị Bồ Tát phụ tá là Văn Thù và Phổ Hiền. Ngài Văn Thù tượng trưng trí tuệ. Ngài Phổ Hiền là đại hạnh Từ bi. Đức Phật Di Đà cũng thế, có hai Bồ Tát phụ tá là Quán Âm và Thế Chí. Đức Quán Âm tượng trưng Từ bi, Bồ Tát Thế Chí tượng trưng trí tuệ. Từ bi ở bên tả, trí tuệ ở bên hữu, để biểu thị trí tuệ lúc nào cũng dẫn đầu thì Từ bi mới thành tựu.

Chúng ta thờ Phật, lễ Phật luôn luôn phải học tập và thực hành hai hạnh này. Có thế, sự thờ Phật lễ Phật mới đầy đủ ý nghĩa.



Hòa Thượng Thích Thanh Từ
__________________
Nếu mà hai gốc bật tăm
Luân hồi ba lẻ nương mà ở đâu.

----------------------------------------
Quảng Hùng is offline Ban this user!   Trả Lời Với Trích Dẫn
The Following 3 Users Say Thank You to Quảng Hùng For This Useful Post:
kumasaniu (07-01-2011), Quảng Ngọc (28-12-2010), Tịnh Lộc (13-01-2011)
Quảng Hùng
Xem hồ sơ
Tìm bài viết khác của Quảng Hùng
Old 07-01-2011, 12:37   #6
Quảng Hùng
Thành viên
 
Avatar của Quảng Hùng
 
Tham gia ngày: Nov 2009
Bài gởi: 12.691
Thanks: 11.315
Thanked 13.617 Times in 1.376 Posts
Thâm ý qua hình tượng BỒ TÁT QUÁN THẾ ÂM
--------------------------------------------------------------------------

DANH HIỆU
Quán Thế Âm, nghĩa là quán sát tiếng kêu than của chúng sanh trong thế gian để độ cho họ thoát khổ.

TIỀN THÂN
Thuở đức Phật Bảo Tạng, Ngài là Thái tử con vua Vô Tránh Niệm. Ngài theo vua cha đến nghe Phật thuyết pháp và thỉnh Phật cùng Tăng chúng về cung cúng dường. Do công đức ấy, được Phật thọ ký sau này làm Bồ Tát hiệu là Quán Thế Âm, phụ tá đức Phật A Di Đà giáo hóa chúng sanh và sau nữa sẽ thành Phật hiệu là Phổ Quang Công Đức Sơn Vương (kinh Bi Hoa quyển ba, phẩm Chư Bồ Tát bổn thọ ký).

HẠNH NGUYỆN
Bồ Tát Quán Thế Âm không có trong lịch sử thế giới này. Ngài là vị Bồ Tát hầu cạnh đức Phật A Di Đà ở thế giới Cực lạc phương Tây. Có chỗ nói Ngài không cố định ở thế giới nào, tùy chúng sanh ở đâu đau khổ thì Ngài thị hiện đến cứu độ. Quán Thế Âm là xem xét tiếng kêu đau khổ của chúng sanh ở đời. Vì thế, Ngài là hiện thân của Từ bi. Chỗ nào có chúng sanh khổ đau là có Ngài hiện thân đến đấy. Ngài hằng tùy loại chúng sanh hóa thân độ họ. Có nhiều lần Ngài hóa thân người nữ độ đời, nên người ta thường gọi Ngài là Phật Bà.

BIỂU TƯỚNG
Nghiên cứu về hình tượng Ngài, chúng ta thấy có lắm tượng. Những tượng y cứ theo giả sử, như: Quán Âm Hài Nhi (thể theo cốt truyện Quán Âm Thị Kính), Quán Âm Nam Hải, Quán Âm Tử Trúc... Những tượng y cứ theo các kinh phái Mật tông, như: Quán Âm Mã Đầu, Quán Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn, Quán Âm Cửu Diện...

Có một pho tượng phổ thông nhất là Quán Âm thanh tịnh bình thùy dương liễu. Tượng này Ngài Trí Khải hằng tán dương, chúng ta cố gắng tìm hiểu. Tượng Ngài hình người nữ đứng trên hoa sen, tay mặt cầm cành dương, tay trái cầm bình thanh tịnh, trong bình đựng nước cam lồ. Chúng ta hằng lạy mười hai câu nguyện sau khi tụng phẩm Phổ Môn, có câu "Nam mô thanh tịnh bình thùy dương liễu, Quán Âm Như Lai cam lồ sái tâm nguyện". Câu nguyện này đã diễn tả đúng hình tượng Ngài. Giờ đây, chúng ta tìm hiểu chi tiết qua hình tượng đó.



THÂM Ý
Tại sao Bồ Tát Quán Thế Âm lại là người nữ? Theo kinh Di Đà nói: người sanh về cõi Cực lạc tuy chưa chứng quả Thánh vẫn không có tướng nam, tướng nữ. Kinh A hàm nói: người nữ có năm chướng không thể thành Phật... Thế mà, Bồ Tát Quán Thế Âm lại hiện thân người nữ?

Bồ Tát Quán Thế Âm hiện thân của đức Từ bi. Muốn nói lên tình thương chân thành tha thiết nhất trong con người, không tình thương nào qua tình mẹ thương con. Mẹ đối với con là tình thương chân thành thâm thúy bao la, khó lấy cái gì có thể hình dung được. Cho nên, đức Quán Thế Âm hiện thân là một người mẹ hiền của nhân loại, hay của tất cả chúng sanh. Người mẹ dầu bận công ăn việc làm gì, một khi nghe tiếng con kêu khóc, mẹ buông bỏ tất cả vội vàng chạy lại vỗ về con. Đức Quán Thế Âm cũng thế, dù bận việc giáo hóa ở đâu, một khi nghe tiếng kêu thương của chúng sanh, Ngài liền hiện thân đến an ủi. Vì thế, gọi Ngài là Bồ Tát Quán Thế Âm. Người mẹ hiền của tất cả chúng sanh, người mẹ lúc nào cũng lắng nghe tiếng nấc nở từ cõi lòng của đàn con dại đang đắm chìm trong bể khổ mênh mông, để đến xoa diệu, cứu thoát khiến mọi khổ não đều được tiêu tan.

Tay mặt Ngài cầm cành dương liễu là tượng trưng cho đức nhẫn nhục. Tay trái cầm bình thanh tịnh đựng nước cam lồ là tượng trưng cho tâm Từ bi. Chỉ có cành dương liễu mới có khả năng mang nước cam lồ rưới mát chúng sanh. Dương liễu là loại cây vừa dẻo vừa mềm, gặp gió mạnh thì uốn mình theo chiều gió, gió dừng là trở về vị trí cũ. Nếu cứng như cành cây lim, cây gõ thì gió không thể lay, một khi bị gió lay là phải gãy. Nếu yếu như cành liễu thì chỉ buông rũ theo chiều gió. Cứng quá, mếm quá đều không có sức chịu đựng lâu dài. Cành dương nhờ sức mềm dẻo nên khéo tùy duyên mà không mất vị trí. Tức là tuy chìu theo cảnh mà không bị cảnh chi phối. Vì thế, cành dương được tượng trưng cho đức nhẫn nhục. Nhẫn nhục không có nghĩa ai làm sao cũng được, ai bảo gì cũng nghe. Chính bản chất của nó là khéo tùy thuận người, để hướng dẫn họ, theo đường lối hay lập trường của mình. Tùy thuận mà không bị họ chi phối, ngược lại chi phối được họ. Người nhẫn nhục mới trông qua như rất yếu hèn, kỳ thật họ có sức mạnh phi thường, đã tự chiến thắng được tình cảm, được phản ứng của bản năng. Họ đã vượt ra ngoài phạm trù con người phàm tục, nếu lấy con mắt phàm tục nhìn họ thì không thể nào hiểu nổi. Người chửi ta giận, người đánh ta đở, đó là bản năng tự vệ của tất cả mọi người. Bị chửi mà không giận, bị đánh mà không đở, ấy mới là việc khó làm, phi bậc Thánh giả khó thể làm được. Hằng ngày chúng ta sống theo tình cảm, theo bản năng, thấy những phản ứng như vậy cho là phải lẽ, hợp lý. Nếu thấy người bị chửi mà không giận..., chúng ta liền đâm ra bực tức, khi dể họ, cho là kẻ hèn yếu nhát nhúa. Đâu ngờ, những kẻ ấy đã đứng trên đỉnh chúng ta, mà ở dưới này chúng ta vẫn tự cao tự đại.

Nước cam lồ là thứ nước rất trong, mát và thơm ngọt, do hứng ngoài sương mà được. Chữ cam là ngọt. Chữ lồ đọc trại chữ lộ, tức là sương hay móc. Khi người ta bị nóng bức khô khan, nếu được một giọt nước cam lồ thấm vào cổ sẽ nghe ngọt ngào mát rượi. Nước cam lồ tượng trưng cho lòng Từ bi của Bồ Tát. Khi chúng sanh bị lửa phiền não thiêu đốt, thiết tha cầu cứu nơi Bồ Tát, Ngài sẽ mang nước Từ bi đến dập tắt và đem lại cho người sự mát mẻ an lành. Chúng ta đang sống trong nhà lửa tam giới, ngọn lửa phiền não của chúng ta nổi cháy rần rần, nếu không có giọt nước Từ bi của Bồ Tát, chắc hẳn tất cả chúng ta đều phải chết thiêu trong lò phiền não.

Từ bi là lòng thương không vụ lợi, không phân biệt thân sơ, không thấy có quý tiện, lòng thương chân thật bình đẳng. Sự quý báu cao cả của nó, chỉ có nước cam lồ mới đủ tính cách tượng trưng. Nước cam lồ chẳng những cứu người qua cơn khát cháy cổ, mà còn đem lại cho người mùi thơm ngon ngọt dịu. Từ bi chẳng những cứu người trong cơn nguy khốn, mà còn đem lại cho người nguồn an lạc vô biên. Bởi tính chất quý báu vô thượng của nước cam lồ như vậy, nên phải đựng nó trong một cái bình thanh tịnh. Vì của quý bao giờ cũng đựng trong món đồ quý.

Bình thanh tịnh là tượng trưng ba nghiệp trong sạch. Chúng ta ôm ấp lòng Từ bi muốn ra cứu độ chúng sanh, nếu thân, miệng, ý chưa trong sạch thì khó mong thực hiện lòng Từ bi. Nếu cố gắng thực hiện, một thời gian cũng lạc về danh hay vì lợi. Ví như người có khoa y dược, sẵn sàng chữa trị bệnh khổ cho người, khi những cơn bệnh được lành, đương nhiên phải có sự đền đáp hay khen ngợi trên báo chí, nếu người ấy ý chưa trong sạch dễ nóng lòng danh lợi. Do đó, dần dần làm hoen ố lòng Từ bi. Cho nên, muốn thực hiện lòng Từ bi, điều kiện tiên quyết là ba nghiệp phải thanh tịnh.



Muốn mang nước cam lồ ra rưới mát chúng sanh, phải dùng cành dương làm phương tiện. Bởi vì chúng sanh trong đời này nghiệp chướng quá sâu dày, ít khi thấy lẽ phải. Họ chỉ sống theo bản ngã, sống vì dục vọng của họ, khó ai làm cho họ hài lòng. Dù người ấy sẵn sàng tiếp giúp họ trong khi khốn đốn, mà họ vẫn không biết ơn, đôi khi còn phản bội. Người sẵn lòng Từ bi ra tế độ chúng sanh, nếu thiếu đức tánh nhẫn nhục thì sự tế độ khó được viên mãn. Không phải ai ai cũng sẵn sàng đưa tay cho ta dìu ra khỏi con đường nguy hiểm hết đâu, dù họ là những kẻ mù. Có kẻ tin đưa tay cho ta dìu đi, song giữa đường vấp phải những hòn đá nhỏ, hay chạm những gốc cây, là họ sừng sộ với ta. Có kẻ dìu đi được một đoạn, họ cho là nhọc nhằn khổ sở, không muốn đi nữa, rồi kiếm chuyện làm khó dễ ta. Có kẻ không ưng đưa tay cho ta dìu, lại còn mắng nhiếc ta thậm tệ. Ở những trường hợp đó, dù ta có thiện chí muốn cứu giúp họ thế mấy, nếu thiếu đức nhẫn nhục, thử hỏi ta có thể làm được việc gì? Bởi thế, người học đạo Từ bi trước phải tập đức nhẫn nhục khi nhẫn nhục được thuần rồi mới ra thực hiện Từ bi. Chưa tập được đức nhẫn nhục đã vội ra thực hành Từ bi, chẳng những không làm được hạnh Từ bi, mà lại phát sanh sân hận là khác. Cho nên, phải có cành dương rồi, sau mới nhúng nước cam lồ rưới mát chúng sanh.

Để thấy rõ công hạnh Từ bi, chúng ta hãy nghe đoạn văn tán dương năng lực nhành dương của Ngài Thiên Thai:

"Thùy dương liễu biến sái cam lồ,
trừ nhiệt não dĩ giai đắc thanh lương,
tầm thinh cứu khổ ư tứ sanh,
thuyết pháp độ thoát ư lục đạo,
bẩm Từ bi kiên cố chi tâm,
cụ tự tại đoan nghiêm chi tướng,
hữu cầu giai ứng, vô nguyện bất tùng,
cố ngã tri lưu, đoan thừa tịnh quán,
thành tụng mật ngôn, gia trì pháp thủy.
Thị thủy giả, phương viên tùy khí, dinh hư nhậm thời,
xuân dương đông ngưng, khẩm lưu lương chỉ,
hạo hạo hồ, diệu nguyên mạc trắc,
thao thao hồ, linh phái nan cùng,
bích giáng tàng long, hàn đàm tẩm nguyệt,
hoặc tại quân vương long bút hạ, tán tác ân ba,
hoặc cư Bồ Tát liễu chi đầu sái vi cam lồ,
nhất đích tài triêm, thập phương câu tịnh".


Dịch:
"Cầm nhành dương (Ngài) rưới nước cam lồ lên khắp cả, trừ nhiệt não (Ngài) làm cho mọi người đều được tắm trong dòng suối thanh lương. Nghe tiếng kêu mà cứu khổ cho tứ sanh, Ngài thuyết pháp để độ thoát cho lục đạo. Sẵn tâm niệm Từ bi kiên cố, đủ dáng vẻ tự tại trang nghiêm, không ai cầu mà chẳng ứng, không nguyện nào mà chẳng thành. Cho nên, chúng con là kẻ xuất gia, an trụ trong tịnh quán, chí thành đọc lại mật ngôn và gia trì pháp thủy. Tịnh thủy này vuông tròn tùy theo bình chứa đựng, có hay không cũng tùy tiết tùy thời. Mùa Xuân là loãng, mùa Đông thì đặc, khi chảy khi đọng thật là mênh mông; nguồn sâu khó lường, chảy mãi thao thao, thật là dòng linh khôn tuyệt. Ở trong khe đá, nước ngâm bóng loài rồng, ở dưới ao thu, nước tẩm lấy bóng nguyệt. Tịnh thủy này hoặc đọng duới ngòi bút của đấng quân vương để rồi làm tràn ngập sóng ân, hoặc nằm trên đầu nhành dương liễu của vị giác hữu tình để rưới thành cam lồ linh diệu. Chỉ cần một giọt nước rưới lên là mười phương đều được sạch trong". (Nhất Hạnh)

Muốn diễn tả lòng Từ bi cao cả của Bồ Tát Quán Thế Âm, tác giả dùng giọt nước nhành dương, thật là linh động biến ảo. Nước không cố định ở một hình thức nào, tùy duyên biến chuyển, có khi là thể lỏng, có khi là thể cứng, có lúc lại biến thành hơi. Nếu chúng ta chấp nước chỉ có ở thể lỏng, tức không hiểu được nước. Không phải chỉ ở một hình thức cố định, mà linh động tùy duyên. Đủ duyên cơ cảm thì Bồ Tát ứng hiện.

Nước khi đọng dưới hồ thu trong xanh in hiện bóng trăng, khi lóng trong khe đá làm nhà cửa loài rồng, lúc chảy ầm ầm thành suối gào thác đổ, thật không thể lường được diệu dụng của nước. Lòng Từ bi của Bồ Tát cũng thế, mênh mông như bể cả bao hàm tất cả chúng sanh, tràn trề như ngọn triều lên mang hạnh phúc cho mọi loài thọ hưởng. Bất cứ nơi nào, chốn nào có cảm thì Bồ Tát đều ứng hiện. Sự ứng hiện tùy theo căn tánh chúng sanh, kẻ thấy Bồ Tát ở hình thức này, người cảm Bồ Tát nơi tướng trạng khác. Tựu trong có cảm thông nhất định có linh ứng.

Chỉ một giọt nước (nhỏ mực) đọng dưới ngòi bút của hàng vua chúa cũng đủ làm cho muôn dân thấm nhuần ơn vũ lộ. Hoặc một giọt nước (giọt cam lồ) nằm trên đầu nhành dương liễu của bậc Bồ Tát cũng đủ giải thoát mọi loài chúng sanh. Lòng Từ bi không phải chỉ có ở trong tâm Bồ Tát, trong tâm những kẻ tu hành, mà còn có ở trong lòng bậc đế vưong, trong lòng kẻ có quyền thế. Cho nên, ai cũng có thể là bậc cứu khổ chúng sanh, miễn họ phát tâm Từ bi. Từ bi không phải là gia bảo dành riêng cho các bậc tu hành, mà nó là của chung tất cả nhân loại. Dù ở hoàn cảnh nào, trường hợp nào, cũng có thể thực hiện Từ bi được, nếu trong lòng chứa sẵn Từ bi.

Qua những lời tán dương trên, chúng ta thấy lòng Từ bi cao cả khôn lường. Chúng ta lễ tượng đức Quán Thế Âm luôn luôn phải ghi nhớ hai đức tánh căn bản của Ngài: Nhẫn nhục và Từ bi, để đem áp dụng vào bản thân chúng ta. Có thế, sự lễ bái mới thật là hữu ích và cần thiết vô cùng.

__________________
Nếu mà hai gốc bật tăm
Luân hồi ba lẻ nương mà ở đâu.

----------------------------------------
Quảng Hùng is offline Ban this user!   Trả Lời Với Trích Dẫn
The Following 2 Users Say Thank You to Quảng Hùng For This Useful Post:
kumasaniu (07-01-2011), Tịnh Lộc (13-01-2011)
Quảng Hùng
Xem hồ sơ
Tìm bài viết khác của Quảng Hùng
Ảnh trước
nhấn phím trái
Ảnh sau
nhấn phím phải
Đóng Di chuyển
Gởi Ðề Tài Mới  Trả lời

« Ðề Tài Trước | Ðề Tài Kế »

Ðang đọc: 1 (0 thành viên và 1 khách)
 
Ðiều Chỉnh
Tạo trang in Tạo trang in
Email trang này Email trang này
Xếp Bài
Chế độ bình thường Chế độ bình thường
Chế độ pha trộn Chuyển sang chế độ Pha trộn
Chế độ Dạng cây Chuyển sang chế độ dạng cây

Quyền Hạn Của Bạn
Bạnkhông thể tạo chủ đề
You may not post replies
You may not post attachments
Bạn không thể sửa bài viết của bạn

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt


Liên Lạc - Hội Bông Sen - Lưu Trữ - Trở Lên Trên
Múi giờ GMT +8. Hiện tại là 15:54.

Powered by: vBulletin v3.7.4 Full - Copyright ©2000-2013.
Phát triển bởi tất cả các thành viên Hội Bông Sen.